• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Diễn đàn lý luận
 
THƠ TRẦN CAO DUYÊN - DUYÊN NGẦM CỦA BIỂN

THƠ TRẦN CAO DUYÊN - DUYÊN NGẦM CỦA BIỂN



                                                                                     Mai Bá Ấn

          Sinh ra, lớn lên, học Đại học Ngữ Văn rồi lại dạy học ngay trên quê hương mình; vùng đất Sa Huỳnh đã ám vào thơ Trần Cao Duyên như một định số: Triền cát dài bên vách núi chênh vênh/ Và gió biển như chàng trai phóng khoáng/ Chiếc vỏ ốc nhỏ nhoi nằm trên cạn/ Đâu biết giữa lòng cát ẩn một tình yêu (Quê cát). Có cái phóng khoáng của biển, nhưng thơ Trần Cao Duyên tuyệt nhiên không hề có cái dữ dội, xoáy lốc của biển khơi. Là thầy giáo, thơ anh trầm và hiền. Lời thơ nhỏ nhẻ như lời tỉ tê, gửi gắm âm thầm, vỗ về an ủi của con sóng đùa trên cát vàng những ngày trời êm biển lặng; lại vừa  ẩn chứa một thứ hương tình có sức lan tỏa dễ làm lòng người xao xuyến đến sững sờ như những cơn gió phóng khoáng từ khơi xa vuốt ve những triền núi đá: Đêm chờ xuân chăm chút mấy nhành hoa/ Ta vô ý đánh rơi chiếc bình ngày cưới/ Những mảnh vỡ trước giao thừa lầm lỗi/ Biết khi nào lành lại với thời gian?(Âm vực mùa xuân). Đang bị mê hoặc bởi những lời thủ thỉ, bị lôi cuốn bởi cái “Duyên ngầm” của cả con người và thơ Duyên, người đọc bất ngờ gặp những “cú” giật mình sững sờ bởi những tứ thơ Duyên “vô ý đánh rơi” hay và âm vang tính nhạc: Ngọn gió cuối đông đưa tôi về Cù Lao/ Cái tên lao xao những mảnh đời đầu sông cuối bể/ Vẫn chín chữ cù lao khi trở về đất Mẹ/ Dòng sông, con đò, những con đường thân thương đất nâu (Xanh như màu buổi ấy)…

Sinh năm 1958, Trần Cao Duyên xuất hiện sớm trên thi đàn Quảng Ngãi sau 1975, đến nay, anh đã cho ra mắt 2 tập thơ (Hoa hút mật - 2004, Với đảo mùa xuân - 2010) và một tập tản văn (Hát nữa đi Hương - 2013) cùng nhiều tuyển tập thơ in chung khác. Tạp chí Sông Trà xin giới thiệu Trang thơ Trần Cao Duyên cùng bạn đọc xa gần.

 

TRẦN CAO DUYÊN

Hội viên Hội VHNT tỉnh Quảng Ngãi

 

Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam

 

 

  QUÊ CÁT

 

Có thể nào quên được hỡi em

Khoảng trời ấy với miền quê cát ấy

Cánh diều trắng, buồm nâu, chiều gió dậy

Con thuyền và bến bãi, biển và trăng

 

Người yêu ơi em có ngại ngùng chăng

Khi anh dắt em về nơi gió cát

Nơi e ấp những loài hoa mộc mạc

Bình dị sắc màu hoa không muốn gọi tên

 

Triền cát dài bên vách núi chênh vênh

Và gió biển như chàng trai phóng khoáng

Chiếc vỏ ốc nhỏ nhoi nằm trên cạn

Đâu biết giữa lòng cát ẩn một tình yêu

 

Quê cát hừng lên trong ráng đỏ trời chiều

In dáng mẹ áo nâu vành nón trắng

Người đi biển rất đơn sơ bình lặng

Giữa chập chùng sóng đánh ngút ngàn xa

 

Đêm bâng khuâng trong vắt dải Ngân Hà

Đi bên biển ngỡ bên bờ huyền thoại

Điều mà cát bồi hồi chưa thể nói

Anh vẫn thầm cảm nhận trong tim

 

Nước triều lên dào dạt mãi bao đêm

Rồi để lại trên bờ từng ngấn sóng

Có chăng em những năm dài tháng rộng

Với quê cát ngọt ngào mình gởi nhớ trong nhau

 

Một bến đời - bến đợi - bến xôn xao

(Xin đừng hỏi đợi ai và ai đợi)

Khi cơn gió bờ dương thì thầm trao gửi

Và hàng dừa xõa tóc mộng mơ chi

 

Quê cát với anh nồng mặn lắm từ khi

Biết xếp giấy thả thuyền ra trước ngõ

Biết đuổi bắt con còng trên bãi gió

Biết cầm chèo bơi lội biết ra khơi

 

Ơi bãi cát, cây sào và tấm lưới giăng phơi

Con tàu lớn, những đêm vui mùa cá

Có nhớ người xưa chiếc lưỡi câu bằng đá

Cuộc sống vẫn tươi ròng trên mỗi nét hoa văn

 

Cát ngập ngừng êm ả dưới bàn chân

Người đi trước mồ hôi hòa mỗi hạt

Để có Sa Huỳnh - có một miền quê cát

Miền êm đềm sóng vỗ gọi người xa…

 



ÂM VỰC MÙA XUÂN


Ai đó kiểng chân là chạm cánh mai vàng
Ta dong ruổi một đời chỉ gặp mình thao thức
Đi giữa mùa thơ tìm câu hạnh phúc
Những ngôn từ xa xỉ đánh lừa ta

Tội nghiệp chú nai gõ móng vọng trăng ngà
Rừng nguyên sinh thâm u đầy lá mục
Tiếng chim chiều cuối năm kêu gì xa xót lắm
Như âm vực cuối cùng vừa tách bỏ lời ca

Đêm chờ xuân chăm chút mấy nhành hoa
Ta vô ý đánh rơi chiếc bình ngày cưới
Những mảnh vỡ trước giao thừa lầm lỗi
Biết khi nào lành lại với thời gian?

                                        
                                                

CẢM NHẬN HỘI AN

chiều Hội An
mái phố lăn tăn gờn gợn bóng thời gian
nghe những trăm năm

thầm thào
trên rêu mờ tháp cổ
áo trắng em bay lùa mây vào phố
chiều bồng bềnh sương khói tứ thơ trôi
vòm me già

mấy nốt lá vàng rơi
phố cổ chớm thu bâng khuâng dòng nhạc cảm
nảy vội nhánh si non trên bức tường rong xám
mắt lá ngập ngừng xanh
rượu một mình
quán vắng chiều hanh

giữa trầm mặc Hội An chợt thấy mình nông nổi

thả chiếc lá thu vàng màu thời gian già cỗi

theo tiếng chuông chiều tàn trôi tản mạn trên sông.

 

 

XANH NHƯ MÀU BUỔI ẤY

                                           Tặng Ngọc Toàn

 

Ngọn gió cuối đông đưa tôi về Cù Lao[1]

Cái tên lao xao những mảnh đời đầu sông cuối bể

Vẫn chín chữ cù lao khi trở về đất Mẹ

Dòng sông, con đò, những con đường thân thương đất nâu

 

Bao ngày xa quê tôi nghìn lần hỏi tôi về đâu?

Dội lại lòng tôi trong vắng khuya tiếng Cù Lao ngọt ngào sâu thẳm

Đi qua những bồi lở đục trầm vẫn dòng sông lắng lọc

Ngày tôi về xanh ngỡ ngàng

Xanh như màu buổi ấy chúng mình yêu

 

Góc trời xa mỗi lần nghe cằn cỗi rong rêu

Sông quê lại dào lên trong ngực mình bồi hồi con sóng trẻ

Nên chiều nay trở về với Mẹ

Cũng là cuộc trở về với dòng sông yêu thương

 

Tôi làm sao hiểu hết ngọn nguồn

Nếu không ngồi với sông hát về cánh diều thuở ấy

Tiếng ghi ta bạn bè bập bùng như lửa cháy

Cho ngày về

Và cho cả những ngày xa...

                                                                                  10/12/2013

 

 

                           



[1] Thuộc thôn Mỹ Tân, xã Bình Chánh, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi.

 



Tin tức khác

· THI BÁ ĐƯỢC ĐỀ CỬ GIẢI NOBEL - TÀI NĂNG KHÔNG KÉM XUÂN DIỆU, HUY CẬN
· KHI MẶC KHÁCH VIẾT VỀ MẶC KHÁCH
· TIỂU LUẬN NGUYỄN KHOA ĐIỀM - PHẨM GIÁ CỦA THƠ CA
· CẢM THỨC CHIẾN TRANH VÀ NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ MIỀN NAM 1954 - 1975
· LẦN THEO DẤU CHÂN 'NHỮNG CON NGỰA THỒ VĂN CHƯƠNG' XỨ QUẢNG
· TẢN MẠN VỀ PHẨM GIÁ THƠ CA - Tiệu luận ĐẶNG HUY GIANG
· NHỮNG PHẬN NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA DƯƠNG HƯỚNG
· NHÀ THƠ ĐẶNG ĐÌNH HƯNG - MỘT CUỘC CÁCH TÂN THƠ ÂM THẦM - Tiểu luận NGUYỄN THỤY KHA
· 40 NĂM TÌM CON GÁI CHO CHA
· NƠI YÊN NGHỈ CỦA VỊ VUA 'HỒI HƯƠNG' SAU 46 NĂM Ở THANH HÓA
· VÀM CHÀ LÀ - MIỀN KÝ ỨC TUỔI THƠ CỦA LUẬT SƯ, CHỦ TỊCH NGUYỄN HỮU THỌ
· MỘT CƠN MƯA RẤT NHẸ TRÊN VAI TRỊNH CÔNG SƠN
· TẾT TRONG VĂN HỌC NAM BỘ HIỆN ĐẠI - KÝ ỨC BẢN ĐỊA TRƯỚC DÒNG CHẢY THỜI ĐẠI
· NGUYỄN BÍNH - NGƯỜI GỌI HỒN QUÊ - Tiểu luận HỮU THỈNH
· BỘN BỀ CUỘC SỐNG TRONG THƠ PHAN HOÀNG
· BẤT NGỜ... ĐỖ NGỌC YÊN
· HÃY SỐNG NHƯ NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT - MỘT NHAN ĐỀ ĐỘC ĐÁO
· NỖI NHỚ TẾT NHÀ QUA NHỮNG TRANG VIỆT NGỮ Ở HẢI NGOẠI
· TRUYỆN NGẮN HỒ LOAN VÀ HAI PHƯƠNG THỨC XÂY DỰNG NHÂN VẬT - Tiểu luận MAI BÁ ẤN
· PHẠM NGỌC CẢNH VÀ TÂM TÌNH MỘT NHÀ THƠ MẶC ÁO LÍNH

Tin tức mới
♦ CHÙM THƠ XUÂN HUỲNH THỊ QUỲNH NGA - CHẠM VẾT NGUỒN SÔNG VIỆT (05/03/2026)
♦ THI BÁ ĐƯỢC ĐỀ CỬ GIẢI NOBEL - TÀI NĂNG KHÔNG KÉM XUÂN DIỆU, HUY CẬN (05/03/2026)
♦ KHI MẶC KHÁCH VIẾT VỀ MẶC KHÁCH (05/03/2026)
♦ TIỂU LUẬN NGUYỄN KHOA ĐIỀM - PHẨM GIÁ CỦA THƠ CA (05/03/2026)
♦ CẢM THỨC CHIẾN TRANH VÀ NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ MIỀN NAM 1954 - 1975 (03/03/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 1908613
Trong thang Trong tháng: 179088
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 84947
Truc tuyen Trực tuyến: 10

...

...

Designed by VietNetNam