• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Thi hữu
 
TIẾNG CHIM VỊT KÊU - Truyện ngắn TRẦN HOÀI HÀ

TIẾNG CHIM VỊT KÊU - Truyện ngắn TRẦN HOÀI HÀ



TRẦN HOÀI HÀ (1940 – 2023)

Tên thật: Trần Quốc Huyên

Quê quán: Mộ Đức, Quảng Ngãi

Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi

***

TÁC GIẢ TRẦN HOÀI HÀ DỰ NGÀY THƠ VIỆT NAM NĂM 2011

Nguồn ảnh: (https://sacmauthoigian.wordpress.com/

 

Tiếng kêu chim vịt

                                                                                                 - Truyện ngắn

 

Thế là sau những cuộc hành trình dài gần hết cả cuộc đời, đến lúc về hưu - nghĩa là đã ngoài tuổi sáu mươi, ông Thành mới có được cái gọi là “nhà riêng” theo đúng nghĩa đen của nó. Thời gian rảnh rỗi, ông thường ngả mình trên chiếc sô-pha, đưa mắt lướt khắp căn nhà đầy vẻ mãn nguyện. Đi gần suốt cuộc đời, những tâm trạng, những cảm giác như vậy ở ông thường rất ít và nếu có thì cũng diễn ra trong thoáng chốc. Lần này cũng thế. Căn nhà của ông vừa được xây, nằm trong “khu quy hoạch đô thị mới”. Nơi đây vốn là một vùng ven đô với những xóm nhà rách nát của dân tứ chiếng, vì nhiều lý do khác nhau, tụ tập về đây sống bằng những gánh hàng rong, cất nhà trên một bãi rác cũ ngay cạnh những hố nước thải đặc quánh, đen ngòm. Kính nể trước “bề dày công tác” của ông, người ta đã vừa “cấp”, vừa “bán” cho ông một lô đất ở khu được quy hoạch là “đô thị mới” ấy. Thế nhưng, nhiều người đã về đây được năm, bảy năm, ông thì mới về được hơn ba năm và đã dự bao cuộc họp “chất vấn, kiến nghị, yêu cầu” đến nay, vùng ông ở vẫn “chợ không ra chợ, quê chẳng ra quê” mà nó được mang cái tên “Xóm Mới” theo lối nói quen miệng của dân quanh vùng. “Nhà không số, phố không tên” đã khiến bạn bè, thư từ đến với ông cũng ngày một thưa thớt, thất lạc. Có lẽ điều đáng sợ nhất của tuổi già là sự cô đơn. Cảm giác ấy càng ngày như càng hiện rõ và lớn dần trong ông. Lắm lúc, ông như có thể sờ mó được. Các con ông đã lớn, đi làm ăn xa nhà cả. Căn nhà càng lúc càng như quá rộng rãi, trống vắng với đôi vợ chồng già. Đã thế, vợ ông lại để ông ở nhà một mình, khi một tuần, khi nửa tháng để đi thăm các con.

Đêm nay, vợ vắng nhà. Ông Thành hâm lại nước, chế gói mì tôm ăn cho qua bữa tối rồi vào phòng ngủ. Thường thì ông vẫn xem ti vi hoặc mở đài nghe nhạc nhưng mãi rồi cũng chán. Bỗng dưng, ông thấy buồn buồn, chẳng muốn xem ti vi cũng không mở nhạc nữa. Ông nằm, đôi mắt vô hồn vẫn mở thao láo nhìn những chú thằn lằn chơi trò đuổi bắt trên trần nhà. Một con bị mấy con khác đuổi cắn, chạy ra xa nhìn vào chặc lưỡi. Ông kéo chăn phủ mặt và chìm ngập trong một khoảng không mông lung. Đây không phải là đêm đầu ông có cảm giác ấy. Có những đêm mùa Đông, ông đã từng nằm bất động như thế để nghe tiếng ếch nhái tấu lên như một dàn hợp xướng ở những đám ruộng bỏ hoang chờ làm đường “dự án”, cỏ mọc lu lấp quanh nhà. Trong cái đêm mùa Hè này, ông không được thưởng thức “dàn hợp xướng ếch nhái” ấy nữa. Ông cố đếm từ một đến trăm và tưởng tượng ra một chiếc kim đồng hồ chạy đều đều, đơn điệu, nhàm chán để tìm cảm giác buồn ngủ. Đêm nay, ông cũng đã làm những điều ấy không biết đến lần thứ mấy mà mắt ông vẫn mở thao láo, ráo hoảnh. Một con gà nào ở cuối xóm đã cất tiếng gáy. Khuya quá rồi ! Ông buộc miệng lẩm bẩm với vẻ sốt ruột nhưng khốn nỗi, càng sốt ruột, ông lại càng tỉnh ngủ. Bỗng như từ cõi sâu hun hút của bóng đêm vọng về một tiếng chim vịt. Tiếng chim lúc như ở rất xa, lúc lại như ở ngay bụi lau cạnh nhà. Tiếng chim vừa có vẻ thảng thốt như tiếng kêu của một gà con lạc mẹ, lúc lại khắc khoải như tiếng cuốc gọi bạn tình, khi lại như tiếng thở dài uể oải... Con chim ấy chính là linh hồn của một người chăn vịt mà ông đã được nghe mẹ kể từ hồi ông còn nhỏ lắm. Chuyện rằng, ngày xửa ngày xưa, ở một gia đình nọ, người vợ vô phước gặp phải một anh chồng khờ, một nách hai con, đầu tắt mặt tối vẫn chẳng đủ ăn. Người chồng luôn phải hứng chịu những lời cằn nhằn, than thở của vợ. Anh đem chuyện ấy tâm sự với bạn bè. Có người mách nước :

- Người xưa nói “phi thương bất phú”. Mày tìm cách đi buôn thì mới mau kiếm ra tiền. Khi đã có tiền thì vợ chồng mới êm ấm...

Nghe có lý lắm! Tối về, anh đem chuyện ấy thổ lộ với vợ. Đêm ấy vợ chồng thức rất khuya, bàn đi tính lại và cuối cùng, người vợ cũng chìu ý chồng và hy vọng về một cơ may. Chị chạy bán tống bán tháo vật dụng gia đình, gom góp tiền cho chồng đi buôn vịt. Ôm túi tiền, vác cây sào, người chồng lên đường tìm mua vịt lùa về cho vợ mang ra chợ bán. Anh ta đi, đi mãi... đến trưa thì tới một hồ nước ở cạnh chân đồi đầy những bông bèo, bông súng. Anh đứng hóng mát, ngắm hoa và bỗng phát hiện dưới hồ có đàn vịt đến mấy chục con đang tung tăng bơi lội. Anh ta mừng như nhặt được của rơi và đảo mắt tìm người chủ của đàn vịt để hỏi mua. Kia rồi ! Dưới bóng râm của một cây cạnh hồ, một người đàn ông đang ngủ. Anh lay gọi mãi, người nọ mới choàng tỉnh. Người gã nồng nặc mùi rượu. Vừa thấy có người, gã đã hoảng hốt chắp tay lạy như rái:

- Tôi xin ông! Bây giờ tôi chưa có tiền, ngày mai tôi sẽ trả… Anh chàng khờ càng tỏ ra mừng rỡ:

- Anh không có tiền trả nợ thì bán đàn vịt cho tôi, lấy tiền trả nợ!

- Đàn vịt nào ?

- Thì đàn vịt dưới hồ kia kìa!

Mắt gã say chợt sáng lên! Hắn nhận ra anh chàng này chẳng phải là tay chủ quán mà hắn đang nợ tiền rượu. Hơn thế, chàng ta còn có vẻ khờ khạo. Hắn nhìn chăm chăm vào tay nải đựng tiền mà anh chồng khờ đang mang trên tay. Sau một hồi cò kè, hai bên đã ngã giá. Túi tiền của anh chồng khờ nằm gọn trong tay gã say. Trước khi chia tay, hắn còn “lì xì” cho anh chàng khờ mấy hào chỉ để “lấy hên” và dặn :

Anh bạn cứ nghỉ ngơi, cơm nước, đợi khi nắng dịu hãy đuổi vịt về.

Nói dứt câu, hắn ôm tiền chuồn thẳng. Anh chồng khờ nghe theo lời dặn của gã say, lòng dạ vui lắm. Anh ta giở nắm cơm mang theo ra ăn, miệng lẩm nhẩm như hát :

Vợ ơi! Vợ ơi!

Mua được vịt rồi

Vợ đừng buồn nữa

Con có áo mới,

Cơm sẽ đầy nồi,

Vợ ơi! Vợ ơi!

Cơm nước xong, anh ta đánh một giấc tới chiều. Khi tỉnh dậy thì mặt trời đã gác lưng đồi. Nhìn xuống hồ, đàn vịt vẫn tung tăng bơi lội. Anh ta vác sào đi đuổi vịt mà miệng vẫn lẩm nhẩm bài hát anh ta cao hứng “sáng tác” trước lúc ngủ. Anh ta đến bên bờ, miệng “huầy! huầy!”, tay tung sào lùa vịt. Nhưng than ôi! Khi sào vừa huơ lên thì đàn vịt... rùng rùng đập cánh và kéo nhau bay về một phương trời nào xa tít tắp. Từ lạ lẫm, sửng sốt đến nuối tiếc, thất vọng, gã chồng khờ đứng như trời trồng và đêm ấy, gã không về gặp lại vợ con. Ba ngày sau, lũ mục đồng thấy xác gã nổi trên hồ bèn hô hoán, cùng mấy người tiều phu đưa xác gã lên bờ và lấp thành nấm mồ nhỏ cạnh hồ.

Đã mấy ngày trông ngóng, cuối cùng, người vợ đành đùm túm, dắt díu các con đi tìm chồng. Đến cái hồ nọ, được lũ mục đồng mách nước, người vợ dìu hai con đến ôm mộ chồng, khóc la thảm thiết. Bỗng từ bụi rậm cạnh mộ, một con chim vụt bay sang bên kia bờ hồ, cất tiếng lanh lảnh như tiếng người gọi vịt: “Kít... kít... kít... ki... ki... ki... ...!”.

Chuyện ấy được truyền tụng và từ đó, thế giới chim muông có thêm loài “chim vịt”.

Đêm nay, trong thời khắc xế chiều của cuộc đời, ông Thành bỗng nghe tiếng chim vịt và sực nhớ lại câu chuyện xưa với tâm trạng khó tả. Ông suy nghĩ mông lung và thiếp đi trong cái điệp khúc tiếng kêu chim vịt :

“Kít... kít... kít... ki... ki... ki... ...!”

“Kít... kít... kít... ki... ki... ki... ...!”

                                                                          Mùa xuân 2024

                                      (Bài đăng trên Tạp chí Sông Trà - Hội VHNT Quảng Ngãi)

                                                

 

Cổ tích về một vùng đất

- Tản văn

Không hiểu sao, trong cuộc đời cầm bút, dẫu đã không ít lần viết về vùng đất này, tôi vẫn thấy như mình đang là người mắc nợ vì có điều gì đó thiêng liêng lắm mà tôi chưa nói được. Đó là mảnh đất Trường An, nơi “chôn nhau cắt rốn” của tôi. Thật ra đây chỉ là những rẻo đất hẹp trong thung lũng hạ lưu sông Ba Tơ trước khi đổ vào sông Vệ, bốn bề bao quanh những lớp núi non trùng điệp mà người dưới xuôi muốn đặt chân lên đây đã phải giật mình về những cái tên như đèo Đá Chát, Vực Liêm, Hố Tối, Hóc Kè... Giữa chốn núi rừng trùng điệp với những làng bản người H’rê vài chục nóc nhà sàn mang những cái tên lạ tai như Nước Reng, Giá Vực, Nước Lá, Koong Riêng... thì bỗng dưng lại có một cái tên rất “chữ nghĩa” là Trường An. Đứng ở Trường An nhìn về hướng Tây thấy đỉnh Cao Muôn hùng vĩ lúc ẩn, lúc hiện trong mây; nhìn về phía Đông là hòn Núi Lớn nằm ngang như một bức trường thành vĩ đại.

Thời Pháp xâm chiếm, chúng chia các vùng dân cư Ba Tơ thành những Ấp, những Lân, những Cơ. Trường An được hoá thân trong hai thôn là Bắc Lân và Nam Lân thuộc xã Ba Động. Tuy nhiên, với những người dân ở dưới xuôi, chẳng ai gọi thế mà cứ lên vùng này thì vẫn gọi là lên Trường An. Lối nói “nhập tâm” ấy vẫn tồn tại đến bây giờ mặc dù các đơn vị hành chính ở Ba Tơ không còn cái tên “Trường An” nữa. Ngày nay, nhiều bậc cao niên vẫn còn kể lại : Từ cuối thế kỷ XIX, mỗi số thương lái người Kinh từ Mộ Đức, Nghĩa Hành, Tư Nghĩa. dùng thuyền chở mắm muối, vải vóc, kim chỉ, dao rựa... ngược dòng sông Vệ lên Ba Tơ đổi cho đồng bào H'rê để lấy lúa gạo, gỗ và lâm sản quý như xương cọp, sa nhân, gạc nai... Sông Ba Tơ len lỏi qua nhiều hẻm núi có độ dốc cao nên có dòng chảy xiết và nhiều ghềnh thác. Mỗi lần vượt thác, thương lái phải dùng dây tời kéo thuyền hết sức nặng nhọc. Từ Sông Vệ, Bến Thóc (Mộ Đức), thuyền muốn lên đến Bến Buôn (Ba Thành - Ba Tơ) phải mất tới hai ngày ròng rã. Ban đêm, thuyền thường phải ghé lại bãi cát Trường An để nấu nướng, ăn uống, nghỉ ngơi. Nhiều người còn kể lại rằng, dọc con sông đầy bấc trắc này, nhiều thuyền đã gặp nạn và họ tin rằng có một thế lực siêu nhiên nào đó cản trở. Một đêm, khi nghỉ lại nơi đây, các thương lái đang ăn cơm thì có cát từ tứ phía vãi vào mâm (có thể là do gió cuốn), người trưởng nhóm liền rót một chén rượu, đốt ba cây nhang rồi khấn: “Chúng tôi là những người lao động lương thiện, nếu “Quý Ngài” có linh thiêng thì hãy ném một hòn sỏi vào bát rượu, từ nay trở đi, khi đến đây chúng tôi xin cúng rượu mời”. Lập tức, một viên sỏi từ đâu bay ngay vào chén rượu. Từ đó, đoàn thuyền nào qua đây cũng thắp nhang, cúng rượu, về sau còn lập cả trang thờ và việc lên xuống của các thuyền bè “xuôi chèo mát mái” hơn. Tuy nhiên lúc ấy, vùng đất này vẫn chưa mang tên “Trường An” mà chỉ là một vùng thuộc Cơ Nhức. Đến năm 1896, khi cụ Trần Du (1864 -1896), người làng Thi Phổ Nhất (Mộ Đức) đi tìm nơi làm hậu cứ cho phong trào Cần Vương yêu nước, khi đến vùng đất này đã thốt lên: “Đây là nơi dung thân chi địa, tiến khả công, thoái khả thủ, là đất “trường an” vậy!”. Từ đó nơi đây mới chính thức mang tên “Trường An”. Nhiều thế hệ dòng tộc những bậc yêu nước và cách mạng tiền bối lần lượt tìm cách thoát khỏi sự kiểm soát của địch, lên đây lập nghiệp, tạo thành một cộng đồng ngươi Kinh đông đúc ở đây. Ở Ba Tơ hiện có 105 đơn vị hành chính cấp thôn, nhiều thôn được gọi theo tên làng, song không có thôn nào mang tên "Trường An" nữa mà tên ấy đã hoá thân vào hai thôn là Bắc Lân và Nam Lân thuộc xã Ba Động và cũng chỉ có hai thôn này là có 100% người Kinh sinh sống. Để mưu sinh và gây dựng phong trào, từ rất sớm, cộng đồng người Kinh ở đây đã có mối quan hệ rất chặt chẽ với các cộng đồng người H'rê bản địa, luôn đùm bọc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống cũng như trong đấu tranh chống địch. Từ năm 1930, ở đây đã có chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên do cụ Trần Toại làm Bí thư. Ở Bắc Lân hiện vẫn còn dấu tích của Dinh Hiệp Cổ. Đó chính là trụ sở hợp pháp của những cổ đông chung vốn mua đất tạo ruộng, lập vườn, tổ chức sản xuất chung, tạo vốn phục vụ cho các hoạt động Cách mạng từ những năm 30 của thế kỷ trước. Dinh được xây dựng năm 1938 và từ khi cụ Trần Toại rời nhà lao Buôn Ma Thuột về đây thụ án theo chế độ “quản thúc tại gia” thì Dinh Hiệp Cổ trở thành địa điểm bí mật tổ chức hội họp, in ấn truyền đơn, học tập các tài liệu của Đảng. Nhiều đồng chí lãnh đạo của Tỉnh ủy Quảng Ngãi như Nguyễn Chánh, Trương Quang Giao, Phạm Kiệt, Trần Quý Hai, Nguyễn Đôn... thường xuyên liên lạc và hội họp ở đây. Di tích nhà cụ Trần Toại và Trại Dâu tằm Trường An đều nằm cận kề Dinh Hiệp Cổ nhưng vì chưa được nằm trong hệ thống quần thể di tích ấy nên Dinh Hiệp Cổ hiện đã xuống cấp nghiêm trọng. Chính lực lượng quần chúng có quan hệ máu mủ với các bậc tiền bối yêu nước và cách mạng ở đây đã biến Trường An thành một hậu cứ rất an toàn cho cách mạng trong những thời khắc khó khăn nhất. Lực lượng này cũng trở thành bạo lực quần chúng vũ trang chủ yếu trong cuộc khởi nghĩa chiếm đồn Ba Tơ ngày 11.3.1945. Ở xã Ba Động hiện còn nhiều di tích đã được xếp hạng như Chòi canh Suối Loa, nơi Tỉnh ủy họp bàn quyết định thay đổi phương thức khởi nghĩa Ba Tơ, Lò rèn vũ khí ở Bàng Chay (thôn Tân Long Hạ - Ba Động), còn có những di tích chưa được xếp hạng như Dinh Hiệp Cổ, Khu sản xuất Bãi Ri (thôn Tân Long Thượng - Ba Động) và Di tích Trường Đảng huyện trong kháng chiến chống Pháp (thôn Bắc Lân - Ba Động)...

Thỉnh thoảng có dịp ghé về thăm quê, bên cạnh niềm vui khi thấy những thay đổi đáng mừng ở đây, còn có những bâng khuâng khi trở về những di tích cũ, nơi cha ông chúng tôi đã từng chiến đấu oanh liệt một thời. Lúc ấy, tự nhiên lòng tôi lại nghe âm vang khúc nhạc trong bài “Du kích Ba Tơ” của nhạc sĩ Dương Minh Viên mà chúng tôi đã thuộc nhập tâm từ thuở bé

“...Từ Kinh đến Thượng cùng nhau kết đoàn,

Gian khổ bền gan

Mùa Thu gió về, lòng gợi thương nhớ người chiến sĩ vì dân…”

                                             (Bài đăng trên Tạp chí Cẩm Thành - số tháng 10.2024

                                                                             Sở VHTT Quảng Ngãi)

 



Tin tức khác

· CHÙM THƠ NGUYỄN NGỌC HƯNG - MẤY TRĂM NĂM VẪN NHÌN NHAU RẤT TÌNH
· CHÙM THƠ LƯƠNG CẨM QUYÊN - LÁ VÀNG KÍN THỀM NÔNG NỔI
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 14. XÓM 2 - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 13. XÓM QUY KHU - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· CHÙM THƠ VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA HÀ DĨ
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 12. XÓM CÂY NỔ VÀ XÓM GÒ ĐU - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· CHÙM TỨ TUYỆT CỦA ĐÀO ĐỨC TUẤN - GIÓ ĐẦU NGÀY THỔI MÃI THÀNH ĐAU
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM KỲ 11. VƯỜN TRONG - XÓM MỚI - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· CHÙM THƠ CỦA MAI GIA HUY Ở ĐỒNG THÁP
· CHÙM THƠ NGUYỄN TẤN HẢI - ĐÊM CONG MÌNH TRĂNG NÕN RUN RUN
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 10. XÓM CHỢ - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 9. XÓM ĐỒNG VỠ - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 8. XÓM CÁT VÀ XÓM CÂY GỐI - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 7. CÁC XÓM THUỘC LÀNG PHÚ QUÝ - XÓM BẾN CỦA TÔI - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· THƠ 1-2-3 VŨ THANH THỦY - KÈN TRỐNG TIỄN VONG LOANG CẢ CÁNH ĐỒNG
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 6: ĐẦM BA SƠN - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· CHÙM THƠ TRẦM THỤY DU - TÔI NGỒI LẠI VỚI MÙA THU QUẢNG NGÃI
· CHÙM THƠ TRẦM THỤY DU - TÔI NGỒI LẠI VỚI MÙA THU QUẢNG NGÃI
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 5. CHÙA PHÚ SƠN - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· KẺ LẠ - Tạp bút NGUYỄN NGỌC TƯ

Tin tức mới
♦ CHÙM THƠ NGUYỄN NGỌC HƯNG - MẤY TRĂM NĂM VẪN NHÌN NHAU RẤT TÌNH (15/10/2026)
♦ 5 VŨ KHÍ BÁ ĐẠO TRONG TIỂU THUYẾT KIM DUNG, VI TIỂU BẢO SỞ HỮU 1 MÓN (15/10/2026)
♦ VỀ LÀNG CỔ ĐƯỜNG LÂM NGHE GIAI THOẠI VỀ SỨ THẦN GIANG VĂN MINH (15/10/2026)
♦ CHÙM THƠ LƯƠNG CẨM QUYÊN - LÁ VÀNG KÍN THỀM NÔNG NỔI (13/10/2026)
♦ NGÂN VỊNH - NGƯỜI LÍNH CÓ 'TÚI THƠ' (13/10/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 2338486
Trong thang Trong tháng: 234706
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 151190
Truc tuyen Trực tuyến: 13

...

...

Designed by VietNetNam