• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Diễn đàn lý luận
 
TRUY VẤN BẢN THỂ TRONG THƠ PHAN HOÀNG - Tiểu luận TRẦN BẢO ĐỊNH

TRUY VẤN BẢN THỂ TRONG THƠ PHAN HOÀNG - Tiểu luận TRẦN BẢO ĐỊNH



NGUỒN: Vanvn- Cập nhật ngày: 15 Tháng 1, 2026 lúc 19:05

Thơ ca mở đường cho sự nghiệp văn chương Phan Hoàng. Tuy nhiên, họ Phan không chỉ có thơ. Tản văn, phỏng vấn, ký sự cùng hợp thành gia tài chữ nghĩa từ những ngày đầu sáng tác cho đến nay hơn ba mươi năm cầm bút. Ngòi bút Phan Hoàng là sự kết hợp giữa suy tư nội tâm nặng trĩu day dứt và tính thời sự nóng hổi gắn liền với sức quẫy đập thời đại.

Hai khía cạnh đối lập cùng tồn tại trong văn nghiệp Phan Hoàng. Một người thơ ngưng đọng thời tính. Một người văn luôn luôn đặt chữ nghĩa ở “thì hiện tại tiếp diễn”. Dầu hai mặt đối lập nhưng trong một thể thống nhất. Bởi, ngưng đọng thời tính hay hiện thể Đang Là đều bộc lộ khối óc và con tim thao thức, thường xuyên ngẫm ngợi và truy tầm bản chất hiện hữu.

Và, Phan Hoàng chẳng bao giờ – chẳng bao giờ êm xuôi với sự đời!

Từ phải sang: Nhà thơ Phan Hoàng, nhà nghiên cứu Trần Bảo Định, nhà báo Hàn Tấn Quang – Chủ biên Tạp chí Kiến Thức Ngày Nay, 9.2024.

1. Phan Hoàng và truy vấn hữu thể

Nỗi thao thức và sức dồn nén tâm tư khiến bạn đọc không khỏi nghĩ lại vấn đề truy vấn hữu thể. Dọc đường thơ, bạn có thể nhận ra niềm khao khát nắm bắt yếu tính hiện thể.

Truy vấn là truy vấn về hay “xét như là tìm kiếm tra vấn đòi hỏi một hướng chiều đi trước từ cái được tìm kiếm”[1]. Phan Hoàng chỉ truy vấn, hay đã truy vấn về? Chiều hướng tra vấn của Phan Hoàng. Hẳn nhiên lập thành truy vấn không thể đơn thuần truy vấn. Mà tất yếu truy vấn phải là truy vấn về. Mặc định chiều hướng quá trình truy vấn. Ý hướng thơ Phan Hoàng dường như song trùng phản chiếu. Ý hướng lập thành trên phương (chủ thể tính đến ngoại giới) chiều (từ chủ thể tính đến phi chủ thể tính). Nhưng, quá trình đó đồng thời cũng hàm chứa cái nhìn ngược lại (phi chủ thể tính quay lại chủ thể tính). Do đó, bạn đọc có thể quan sát, theo dõi, thấu hiểu ý hướng với phương và chiều qua thơ ca để nhìn thấy nhà thơ trong chiều hướng đó.

Cổ nhân không ít người cho rằng: thơ là người. Quả thực hữu lý!

Truy vấn hẳn nhiên ẩn chứa đòi hỏi, kỳ vọng. Phan Hoàng đòi hỏi việc thực hiện tại thế như thế nào? Và, người trung niên họ Phan kỳ vọng gì ở chữ nghĩa và khả năng chữ nghĩa? Thơ Phan Hoàng không xa lạ với con người. Bởi thơ họ Phan truy tìm và xác định con người. Truy vấn hữu thể nói ở phương biện tính lý. Kỳ thực, thơ họ Phan truy vấn hữu thể “người” nhằm mục đích bộc biểu nhân tính. Họ Phan luận lý phán đoán và biểu kiến về nhân tính ấy. Mục đích nhà thơ có lẽ muốn độc giả phải “bão tố”. Mỗi chữ như “cây kim bé nhỏ”, nhưng không phải để bị thu hút bởi muôn đá nam châm mà là để “son sót” trong não tủy, buộc người đọc truy tìm lễ lấy khỏi thân thể. Lời thơ như muôn ngàn mũi kim châm chích suy tư.

Nói khác đi, truy vấn đưa tới sự am hiểu hữu thể. “Sự am hiểu hữu thể trung bình và mơ hồ là một sự kiện”[2]. Tính sự kiện của hiện thể là điều trước hết có thể rút ra. Qua tính sự kiện của hiện thể, liệu hữu thể có xuất hiện. Và, trong thơ Phan Hoàng sự kiện đời sống, sự kiện sống đã xuất đầu lộ diện trong cách thế trạng thái ra sao? Họ Phan làm “thần rượu nho” với cây búa nóng nảy đạp đổ phá hủy hiện thể ngõ hòng phát lộ hữu thể. Bằng quan niệm mỹ học Dionysus, thơ Phan Hoàng thuộc về “tính bất định” của thời tao loạn hậu công nghiệp. Nếu vậy, bạn đọc không thể đặt vấn đề về cách thế trạng thái của quá trình truy vấn đưa lại. Mà ở trong tính bất định, đời sống đã xuất lộ. Không biết có bạn đọc nào nhận ra cõi giới thi ca ngổn ngang, bề bộn, dang dở, đổ nát trong chữ nghĩa Phan Hoàng?

Nhưng, “sự am hiểu hữu thể này có thể còn rất trôi nổi, lẫn lộn và di động rất gần với giới tuyến của một tri thức ba hoa đơn thuần”[3].

Kẻ phá hủy thường khi dễ sa vào chỗ cuồng chữ và loạn nghĩa. Vậy, làm sao biết nhà thơ họ Phan có đơn thuần chữ nghĩa hay không?

Biểu hiện tương đồng của những kẻ ưa truy vấn để làm màu với nỗi niềm truy vấn của tâm hồn day dứt không yên, lắm khi khiến thiên hạ lầm tưởng. Vàng thau lẫn lộn! Phan Hoàng có gì để bạn đọc gần xa tin tưởng rằng trái tim thổn thức chân thực khi đối diện với định đề hiện hữu. Người trung niên họ Phan xem đời sống như vấn nạn (đô thị hóa, thị trường hóa, vật chất hóa) đưa thể tính chân lý vào chỗ xa lạ. Khế ước xã hội khiến cho thể tính người đích thực dần phôi phai trôi dạt thì vầng thơ như vầng thơ họ Phan truy tìm thể tính chân lý hóa ra “dị hợm” ở đời. Bản chất người trí thức hiếm khi đồng nhất với tâm lý đám đông. Có thể vin vào đó để tin chắc lòng chân thực của nhà thơ Phan Hoàng trong cuộc truy vấn. Thực tế, lắm người “trí thức” chắc gì trí đã thức. Và, cách thế lạ thường khác người cũng chưa hẳn bảo chứng cho nỗi niềm truy vấn đích thực về hiện hữu người. Nhưng, kẻ ưu tư chân thực về đời sống chẳng bao giờ hãnh diện về sự dị biệt khác thường. Có thể thấy người trung niên họ Phan không truy tìm dị biệt “thời trang” chữ nghĩa mà có lẽ, người truy tìm nhằm thỏa mãn niềm thúc bách khởi đi từ băn khoăn tự thân trong từng tế bào. Chính điều ấy, bạn đọc có thể tin tưởng lòng thành thực của nhà thơ họ Phan trong cuộc truy vấn này.

Chiều hướng của truy vấn hữu thể, làm sao truy rồi vấn? “Hữu thể nằm trong hiện hữu và trong yếu tính, trong thực thể tính, trong bản thể tính, trong tồn tại, trong giá trị, trong hiện thể, trong “có””[4]. Đặt nó trong chính nó. Tức là đặt nó trong cách thế tại thế, đặt nó trong hệ quy chiếu của nó. Chẳng phải người trung niên họ Phan vẫn thầm cảm ơn thị phi bao bủa dồn dập châu thân đó sao? Chẳng phải người mang ơn những sóng dồi gió dập cho “bần” trôi đến bờ bến mới đó sao![5] Cho nên, hữu thể trong yếu tính của nó không thể bộc lộ như là hữu nếu không hiện. “Xét như là hữu thể là cái được tra vấn về và hữu thể là hữu thể của hiện vật, chính hiện vật trở thành cái được tra vấn của câu hỏi hữu thể”[6]. Sự hiện này, dự trình định vị bằng giá trị bộc lộ ra bằng tương tác bám mắc vào. Đừng tưởng kẻ truy vấn có thể biệt lập cái truy vấn. Dù gì, người truy vấn đời sống cũng là truy vấn chính mình. Và, thực sự, những truy vấn hiện thể chung quanh bằng chữ nghĩa nhằm hiện thể bộc lộ yếu tính, người thơ lột trần trụi tuồng đời. Đồng thời, người phơi mình ra giữa kiếp người trong cõi nhân sinh.

Những ý hướng người phóng chiếu về phía “chẳng phải mình”/phi ngã, rốt cuộc cắm phặp vào bảng bia tự thân/”quy nguyên trực chỉ”. Nhờ vậy, bạn đọc mới thấy tâm hồn người trung niên họ Phan lúc nào cũng khao khát và đòi hỏi, ắp ôm dấn bước về phía trước. Không bao giờ người chịu ngồi yên và bằng lòng với thực tại chữ nghĩa từng kinh qua. Lắm khi, người nhìn thấy “vấn nạn” truy vấn chữ nghĩa bộc lộ ra theo cách gọi “thi ca”, người cả giận bởi nhìn thấy sự lặp lại tẻ nhạt của thiên hạ trên các lối đi quen thuộc hầu như đã lầy lội bùn sình. Chính điều đó biểu thị, người đã đi đến cuối chặng đường thơ tự thân. Người giẫy giụa những mong tiếp bước đến một chặng đường mới. Đây là khúc quanh ngặt ngèo, liệu có tiến tới giai đoạn chữ nghĩa tiếp theo, ăn thua sự lột xác căn bản tư tưởng. Nếu không, sự cả giận ấy chỉ là khủng hoảng đơn thuần mà không phải sự khủng hoảng tái thiết. Có lẽ, người phải từ bỏ Apollo chọn Dionysus, nhưng rất có thể sa vào hư vô hóa tuyệt đối. Sao người chẳng tìm về huyền sử giống nòi, ngõ hòng xác lập căn bản tư tưởng, tưới tắm lại bụi đất thời cuộc, gỡ bỏ lớp phục sức xa lạ xứ người, xuất hiện trên hành trình tha phương bằng dáng dấp tiết điệu quê hương rất mực. Từng thấy, những văn nhân thi sĩ tầm cỡ, thẩy đều cắm sâu lòng mình vào cội nguồn ngôn ngữ dân tộc và ý thức trách nhiệm góp thêm hương sắc xứ sở vào kho tàng văn chương thế giới[7].

Qua sóng gió, nhà thơ hiểu mình hiểu người và hiểu đời hơn. Sự hiểu đó bắt nguồn từ truy vấn. Hoạt động truy vấn căn cơ tư duy con người. Không riêng ai, tất cả mọi người hằng ngày vẫn không ngừng truy vấn về sinh hiện chung quy. Từ hằng thủy cổ sơ đến tương lai mai hậu, truy vấn cứ liên hồi khởi dậy từ sự gặp gỡ của con người và ngoại giới.

Hơn ai hết, văn nhân thi sĩ xác lập mối quan hệ thẩm mỹ với thế giới chung quanh. Khiến cho ngoại giới mang dấu ấn người – dấu ấn sáng tạo. Phan Hoàng không ngoại lệ. Thậm chí, hồn thơ họ Phan day dứt, trầm mặc, băn khoăn, ưu tư bởi liên hồi truy vấn, quẫy đập giẫy giụa truy vấn. Hình như, người thơ mang trong tâm tư khao khát khai mở bản chất hiện thể; để sự khai mở ấy đưa hiện thể và chỗ hữu thể. Lẽ nào hiện thể, lẽ nào hữu thể? Phan Hoàng luận lý với sinh hiện không ngừng.

Như cánh chim lãng du

sà vào lòng sông tắm gội phục sinh tiền kiếp

tôi thấy mình chấp chới bay ngược

về phía tiếng cười không thanh âm

nhập nhòa ánh đuốc

(Tiếng cười trên sông Sài Gòn, Chất vấn thói quen, tr.52)

Cánh chim “lãng du” còn bay. Chim bay về phía nào? Chim ngưỡng vọng điều gì trong cuộc diện văn chương hôm nay?

2. Truy vấn hữu thể như là truy vấn về

Phan Hoàng có thể không truy vấn chăng?

Có lẽ, không thể được. Người trung niên họ Phan tự thổ lộ: “Như người mê leo núi có thể không bao giờ đến được cái đích mình mơ ước nhưng tôi vẫn phải leo. Leo vì không thể không leo. Làm thơ vì không thể không làm thơ”[8].

Xưa có nữ sĩ ngẫm chắc đời trước làm võ tướng lỡ tay sát hại thi nhân, nên kiếp này gánh nợ thi ca để trả nghiệp tiền kiếp. Còn Phan Hoàng, món nợ ấy chẳng khác gì trái cấm – quả tri nhận. Một khi thành quả tri nhận, ơn điển của tạo hóa cũng là bản án của hoàng thiên phú cho nhân loại. Một khi ăn phải, liền phát hiện nhận thức mới về thế giới. Một khi có nhận thức mới về thế giới thì mãi mãi không thể tìm lại chốn địa đàng trước đó. Một khi sống, tức là một khi thơ, một khi thơ tức là mãi hoài thổn thức. Phan Hoàng khôn thể ngừng truy vấn, cũng như không thể ngừng làm thơ. Nợ chăng? Nghiệp chăng?

Cứ ngỡ mây tràn mưa đổ

Cây đời vượt hạn lên xanh

Cứ ngỡ tình vàng cỏ mộ

Khổ đau chôn chặt đất lành

Xanh ơi trời vay bão tố

Đất ơi tình nợ bể dâu

(Nợ, Hộp đen báo bão, tr.7)

Nợ phải trả, nghiệp phải gánh!

Phát hiện, nhận diện rồi truy vấn

Nhân tính mới có thể là hạnh phúc mới được không? Liệu hạnh phúc có phải nhân tính mới. Suy tư thường trực trong thơ Phan Hoàng: tình yêu, hạnh phúc và lẽ đời. Cũng tức là con người. Vấn đề con người với Phan hoàng: Vấn Nạn!

sáng chở cô giáo đi

chiều đón vợ về

líu lo líu lô tiếng Yên Yên bé bỏng

hạnh phúc thật giản đơn

sao có lúc ta kiếm tìm trong vô vọng

cánh chim rời rã

những chân trời

 (Bản nhạc không lời)[9]

Có mặt, phát hiện, nhận diện và truy vấn. Con đường truy vấn của Phan Hoàng (dường như) là truy vấn ngược. Bởi lệ thường người trong thiên hạ phát hiện, nhận diện liền êm xuôi. Nhưng với Phan Hoàng, phát hiện lưu hoạt đời sống lập tức thúc bách, đẩy nhà thơ đến những truy vấn khác. Truy vấn hạnh phúc, nghĩa lý của sinh hiện dưới lừng trời này! Ý hướng truy vấn khiến lời thơ đã dừng mà ý thơ chưa dứt. Cơn gió thốc còn dội vào lòng người đọc. Truy vấn hạnh phúc của Phan Hoàng gặp gỡ sự truy vấn phổ quát trong đời sống con người. Truy vấn căn cơ về sinh hiện người, khiến người từ hiện thể có mặt như hữu thể. Cũng gọi là Tại Thế Thể (Dasein). Thiếu hạnh phúc, sống chỉ là hiện diện cô đặc lầm lỳ. Thiếu truy vấn, sự tại thế của hữu thể không thể lập thành. Chí ít, sự truy vấn này còn cho biết cánh chim tồn tại và hằng bay dưới lừng trời. Chí ít cũng cho bạn đọc biết Phan Hoàng còn lãng du.

Nhưng, hạnh phúc đôi khi chỉ là cái cớ. Tình yêu cũng như “anh và em và tất cả” hồ như chẳng phải chỗ du tưởng của người trung niên họ Phan.

tôi tìm đến thơ hay thơ tìm đến tôi?

tôi tìm đến em hay em tìm đến tôi?

(Hộp đen báo bão, tr.26)

Chẳng qua chỉ là chất điểm để truy vấn, lập thành “hồ sơ” nhân tính trong thời đại này. Phát hiện “em”, “tình”, “người”, “đời”. Nhận diện “em”, “tình”, “người”, “đời”; để rồi truy vấn từ chỗ đó về phía nhân tính. Rốt cuộc sự hiện diện người trên cõi thế mang bản chất gì! Chiến tranh và hòa bình, văn minh và hủy diệt. Bài thơ “Hộp đen báo bão” trong tập thơ cùng tên có thể xem như văn bản cô đọng toàn bộ tâm tư Phan Hoàng. Bài thơ cho thấy quá trình tư tưởng của họ Phan: phát hiện – nhận diện – truy vấn.

hộp đen ký ức đa tình

hộp đen con tàu bất an

lưu giữ những cơn mộng mị hoang tàn trắc ẩn

những cơn mộng mị nổi loạn

lưu đày tự do trên chính bản thể mình

(Hộp đen báo bão, tr.29-30).

Người thơ truy để vấn. Dầu truy vấn ngoại giới nhưng điều đó, chỉ phản ánh cuộc truy vấn trong tự thân Phan Hoàng. Câu hỏi phang thẳng vào thế giới, và dội lại vào trái tim Phan Hoàng. Truy vấn “khí hậu” chăng? Hồn thơ băn khoăn về biến đối môi trường chăng? Đúng hơn, người thơ truy vấn về nhân tính. Dường như, mọi đầu mối truy vấn Phan Hoàng đều quay lại “thẩm xét” con người trong cách thế sống trải.

những đàn chim di cư tìm bầu trời mới

hay chờ chết?

những đàn cá di cư tìm nguồn nước mới

hay chờ chết?

những đàn thú di cư tìm cánh rừng mới

hay chờ chết?

(Em nóng dần lên, Chất vấn thói quen, tr.74)

Chỗ bắt đầu ưu tư, sự hiện diện tại thế bắt đầu. Bằng cách đó, Phan Hoàng lột trần hiện diện ngụy tạo của nhân tính. Người thơ chỉ ra cuộc tuyệt chủng nhân tính đã bắt đầu, đang xảy ra và có thể, nối diễn tương tục.

em

cởi bỏ mọi trang phục pha lê nứt vỡ

cởi bỏ mọi tư duy hình thức

đa khô đình nát bến cạn

hoà nhập vào cơ thể ta đang tốc hành

về phía ánh sáng

hay đóng cửa

tự huyễn hoặc mình

và chờ chết?

(Em nóng dần lên, Chất vấn thói quen, tr.74)

Người sống bằng vỏ bọc hữu hiện, chẳng phải sự hữu hiện đích thức. Bởi vì rỗng tuếch, đánh mất căn bản sinh hiện. Do đó, càng phải bôi trét, che đậy, phục sức. Đời sống thành lễ hội hóa trang. Chỉ cần vén lớp áo pha lê, hư vô đùn ra lênh láng – sự chết!

Góc nhìn khác, Phan Hoàng ngó nghiêng lịch sử và thời gian. Vẫn là, niềm thao thức nhân tính, người thơ phát hiện rồi nhận diện tính người bộc lộ trong những vết cắt thời gian. Lịch sử loài người có phải thực là lịch sử tính người. Hay, đó chỉ là lịch sử vô nhân tính.

Tôi ngồi uống bóng

đêm lần giở từng trang từng trang thư tịch cổ

toát lạnh đường gươm giấu mặt tang thương …

bao vương triều vụt trôi

hồn chữ nằm tê tái

bao nấm mộ lụi tàn

cỏ nghĩa nhân cứu rỗi?”

(Uống bóng, Chất vấn thói quen, tr.24)

Câu thơ dường như âm hiển tiếng vọng từ Ức Trai đến Hối Trai, vớt vát chút bóng hình “nhân nghĩa chi cử’ và “kiến ngãi bất vi vô dõng giả”. Người thơ ngầm khẳng định, lịch sử vô nhân dù như thế nào cũng chẳng thể thay thế lịch sử nhân tính. Cái gì thuộc về tính người sẽ còn lại với con người. Nhưng có vẻ người trung niên họ Phan còn do dự, bởi dấu “?” còn thòng lại đằng sau, trì kéo trong lòng bạn đọc. Ưu tư của họ Phan hay ưu tư mà họ Phan muốn gieo vào lòng bạn đọc? Phát hiện thời gian, nhận diện lịch sử, truy vấn tính người; họ Phan đặt ra câu hỏi chọn lựa giữa “hiện thể” và “hữu thể”. Lịch sử và thời gian như lưu tồn hoạt hiện của hiện thể, đưa hiện thể vào sự tại thế. Cuộc diện đó làm xuất hiện “sự hữu tại”. Vậy, cái bền chắc thường tại là hiện hay hữu, cái lưu tồn là hữu hay hiện! Truy vấn cũng là chọn lựa. Truy và chọn của Phan Hoàng, cũng là chọn và truy buộc người đọc cùng đồng hành nghiệm trải. Liệu “cỏ nghĩa nhân” có mọc nổi trên những nấm mồ đơn? Hay bê tông thời đại đè nặng quan tài trong lòng mộ. Chưa có ai từng nằm dưới mộ nói cho biết! “Sè sè nắm đất bên đàng…”.

Các tập thơ của Phan Hoàng: Tượng tình, Hộp đen báo bão, Chất vấn thói quen, Bước gió truyền kỳ (trường ca) 

Cảm hứng lịch sử xuất hiện không nhiều, nhưng tạo ra nét đặc biệt cho những câu thơ Phan Hoàng. Vận động lưu tồn hoạt hiện của con người, nhìn rõ ngọn ngành, chẳng đâu bằng nhìn vào lịch sử. Con mắt Phan Hoàng vượt qua giới hạn thời gian, để nhìn liên thời. Nhìn liên thời, phát hiện – nhận diện rồi truy vấn. Hồn thơ Phan hoàng chẳng khi nào chịu êm và xuôi. Hễ cuộc thế bày ra trước mắt người thơ thì người lập tức truy vấn để thành thơ.

Nói, thơ Phan Hoàng là thơ truy vấn, có lẽ, cũng không quá đáng.

Người cứ truy đuổi lịch sử làm cuộc thế hiện ra tính thể người. Có khi người vỡ mộng, có lúc người thất vọng, chua chát; sau cùng thường là nhà thơ không thể truy ra được. Cuộc truy đuổi dồn vấn lịch sử thường khiến độc giả “chưa thỏa mãn”. Có phải “sợi dây” Phan Hoàng không đủ dài hay đó là, dụng ý mà họ Phan muốn độc giả tự nối thêm vào sợi dây đó ngõ hòng thăm dò lịch sử. Cũng có thể như vậy! Cho nên, cuộc truy vấn lịch sử dừng lại nửa chừng. Phan Hoàng vẫn còn ngồi lặng im ngoài Cần Giờ. Tư lự!

Một trang viết lừng danh mở ra

Bao trang đời vô danh khép lại

(…)

Lịch sử tầng tầng mỏ quặng số phận

Văn học lọc cọc đóng nọc thủ công

(Cần Giờ lặng im, Chất vấn thói quen, tr.48-49).

Đi vào lịch sử, liệu độc giả có thể nói về Phan hoàng như một nhà thơ có tư tưởng. Chưa hẳn! Có lẽ, bạn đọc chưa đủ bằng cớ để xác minh Phan Hoàng có “tư tưởng” về lịch sử thời đại. Nhưng, rõ ràng, ai cũng thấy: Phan Hoàng có hành vi tư tưởng. Biểu hiện hành vi này: người đã ngó vào, khui ra và bàn tới “lịch sử thời đại” với “lịch sử nhân tính”.

Phan Hoàng “can tội” làm thơ và dám để “bài thơ” có sinh mệnh.

Bằng cách phát hiện, nhận dạng và truy vấn lịch sử cho tới nhân tính, Phan Hoàng cho bạn đọc nhìn thấy “một người đàn bà đích thực”. Người đàn bà: SIÊU HÌNH. Đối với Phan Hoàng, những người đàn bà trên cõi thế đều là phái thân của người đàn bà đích thực. Sự biểu hiện của nàng xuyên vượt không gian, bao trùm thời gian. “Nàng” đối với họ Phan, chỉ là một ý hướng.

Khi đã vấn và truy, nhà thơ nhận ra mọi nghĩa lý đều vô hiệu trước sắc đẹp của người đàn bà đích thực. Rõ ràng, luận và lý trong ngôn ngữ thường tình không thể đáp ứng và thỏa mãn được tiếng nói người đàn bà cổ sơ (như ẩn ức, như nguyên tượng)[10] trong tâm thức người trung niên họ Phan. Hình như trên ngõ truy vấn, nhà thơ phát hiện, nhận dạng dấu ấn nữ căn cơ trong tâm hồn mỗi con người. Người đi vào tiềm thức, đến vô thức. Tra khảo vô thức, để người đàn bà cổ sơ vọng lên tiếng nói. Những khi nàng bắt đầu cất tiếng, ngôn ngữ thi nhân tỏ ra bất lực cảm ứng.

Mọi định nghĩa về phụ nữ mà tôi biết

mọi lý luận về cái đẹp mà tôi biết

chợt trở nên vô nghĩa

trước một nét kiêu sa

chợt trở thành mây khói

trước một người đàn bà

một người đàn bà đích thực

(Một người đàn bà đích thực, Chất vấn thói quen, tr.65)

Truy vấn đối với Phan Hoàng trở thành phát hiện choáng ngợp. Chiều sâu thơ họ Phan chính bởi những cuộc “thám quật” phi ý thức như vậy. Họ Phan nhận ra.

Tất cả nguồn năng lượng mặt trời

dường như thu hết vào lồng ngực nàng

tất cả mọi dòng sông

dường như trôi hết vào cơ thể nàng

tất cả mọi bông hoa dường như khép mình

bên từng đường cong giới tính của nàng

tất cả vui buồn cuộc đời

dường như gom hết vào ánh mắt nàng

 

(Một người đàn bà đích thực, Chất vấn thói quen, tr.65)

Khi luận lý bất lực, thơ chỉ đơn thuần trực cảm!

Chuyển tải trực cảm, đưa lại nhận thức không thuộc về ý thức; cho nên phải sử dụng ngữ thức phủ định!

Vỡ mộng – phủ nhận

có phải chán chê những cơn mê sáo rỗng thế giới này

có phải chán chê những cơn mê giả dối

rối rắm thế giới này

(gởi một nữ họa sĩ tạc tượng khỏa thân, hộp đen báo bão, tr.13)

Có lúc, ngữ thức truy vấn của Phan Hoàng là ngữ thức phủ định. Ảo hóa hay tâm thức hỗn loạn của xã hội hậu công nghiệp. Ở đó, giá trị sống và giá trị người mất điểm tựa. Điều này gây ra tình trạng bất ổn, bất tín của thời đại “bê tông”. Người và tha nhân bị làn sương “hậu hiện đại” vồ chụp. Tồn tại nửa vời tức là chưa lập thành tồn tại. Người trung niên họ Phan phát hiện tình trạng người chưa thành người. Nhận diện đưa lại truy vấn. Bởi người không thể sống mà không thành người. Nhận thấy tình trạng hiện đại nơi mà con người sống như thể “phi người”, kẻ nhận diện không thể chịu được (chí ít chưa dàn hòa với thực trạng ấy), buộc lòng phải truy vấn. Người mang theo hoang mang hỗn loạn trên đường truy vấn. Phía cuối đường: Hư Vô!

Ngữ Thức phủ định của Phan Hoàng.

NGỮ THỨC = “có khi” + A (không… không…) + B (không…Không…) + TÔI chẳng biết”.

 

có khi

đối diện một con người

người không lạ không quen

người không thực không dối

nửa như kẻ tu hành

nửa như tên tử tội

tôi chẳng biết họ là ai

(như có như không, Hộp đen báo bão, tr.9).

Không lập định truy vấn như là “truy vấn từ” và “truy vấn về”, con đường truy vấn thiên lý mênh mông, sẽ mù khơi vô định. Sống và chết, tồn hữu và tuyệt diệt, hay trắc diện của tạo hóa. Người trung niên hẳn chưa nhìn thấy lối thoát cho con đường truy vấn thiên lý, chí ít người đã nhận ra sự khủng hoảng, sụp đổ, vô nghĩa, rỗng tuếch của hệ giá trị người. Người thức tỉnh “sự người” nhưng chưa biết “sự người” ấy lẽ ra phải thế nào! Thơ ca hôm nay cần thiết những truy vấn khôn nguôi như người trung niên họ Phạn và cần kíp hơn nữa nền tảng nhân tính mới.

Giả danh, gán danh, lộng danh, … DANH – vấn nạn của tính thể. Danh có thể làm xáo trộn nhận diện tính thể, thậm chí hủy hoại tính thể. Chuyện này không mới. Xưa nay trong thanh sử không ít kẻ bị lột trần ra dưới cái nhìn thiên hạ. Danh cũng đã chôn chết không biết bao nhiêu con người. Nhất là những “thần đồng”, “thánh tích”. Phan Hoàng ngó thẳng mặt cái danh, buộc nó hiện nguyên hình “con mọt” hèn mọn. Người trung niên họ Phan còn nhìn thấy, con mọt DANH gặm nhắm tâm hồn. Người thấy gì sau nữa. Tâm hồn mục ruỗng bục vỡ tan thành, người vỡ mộng rồi phủ nhận danh.

Nước mắt bao giờ cũng độc hành lặng lẽ

hào quang đâu ngăn nổi con mọt hư danh

gặm nhấm tâm hồn?

(Khi bạn bỏ ruộng mong gặp thần đồng, Chất vấn thói quen, tr.44)

Truy vấn danh, Phan Hoàng tiếp tục đi vào tính thể người. Sự lưu tồn hoạt hiện của người liệu có thực mang vào tính người, hoặc trao cho người biểu hiện người. Người hoài nghi về điều đó. Phan Hoàng tỏ ra vỡ mộng, vỡ lẽ ra. Người nhìn thấy nhân loại trong con khỉ, con sấu, con muỗi. “Siêu việt tính” như là thể tính người hồ như bị Phan Hoàng lột sạch. Sự “cần giờ” những tưởng khẳng định tính thể người, hóa ra chỉ là sự che đậy phù phiếm mà con người gắng gượng đưa mình thoát khỏi giới cầm thú. Nhưng con người làm sao ra vẻ người, trong khi hồn cốt chỉ là vượn. Phan Hoàng dùng thủ thuật so sánh làm phương trình phân hủy hiện hữu. Phân hủy “Cần Giờ”, người trung niên họ Phan khiến độc giả ngơ ngác, mà trước đó chính bản thân nhà thơ đã ngơ ngác. Hụt hẫng, rỗng không, phủ mà lại nhận ra bản thân/nhân loại đứng ngu ngơ trên mặt đất trần gian. Người tức Giả Nhân.

Chúng ta khác gì những con khỉ?

Chúng ta khác gì những con sấu?

Chúng ta khác gì những con muỗi?

(Cần Giờ ngơ ngác, Chất vấn thói quen, tr.46)

Không cần nói xa xôi, Phan Hoàng chỉ ra cách thế Giả Nhân trong chính sự lưu truyền thế hệ. Truy tới đâu, lốt người tụt ra tới đó. Họ Phan kịch liệt mạnh tay lột truồng bản diện nhân tâm hôm nay. Phản bội, tráo trở, phủ chối! Đằng sau chuyện con đánh mẹ, đằng sau tấm bằng tiến sĩ, kỹ sư, luật sư, Phan Hoàng muốn truy tầm đến đâu! Họ Phan muốn lột mặt nạ cái gì? Chưa rõ! Nhưng, bạn đọc thì thấy rõ nhà thơ hoàn toàn vỡ mộng bởi văn minh trí thức, hoàn toàn thất vọng với giới tinh hoa xã hội. Những kẻ “lưu manh”, “giả trá”, “ngụy tạo”, “điếm thúi”, … Phan Hoàng gộp lại gọi chung là “cọp trí thức”.

Ngọn gió mùa hạ bay qua ngôi nhà bất hạnh

hóa thành ngọn lửa lăm le thiêu hủy chúng

đám mây trắng trôi qua hóa thành

vành khăn tang khinh bỉ chúng

người mẹ già như con mồi thu mình

trước bầy cọp trí thức ngụy tạo nhe nanh

Ôi những tiến sĩ, kỹ sư, luật sư

học vấn tới chân răng

(Bao giờ con lớn, Chất vấn thói quen, tr.84-85).

Nhưng, nếu bạn đọc chỉ nhìn thấy sự vỡ mộng, phủ nhận “nhân tâm” thì có lẽ chưa công bằng đối với Phan Hoàng. Bởi, phủ nhận “nhân tâm” tức là khao khát đòi hỏi nhân tâm mới. Dẫu nhà thơ lột trần, chọc khoáy ung nhọt nhân tâm thời đại mà chưa đưa ra con đường giải thoát khả dĩ cho những tật bệnh hiện thời; nhưng bạn đọc nên thấy ở hồn thơ Phan Hoàng: một con người trung thực trước vấn nạn con người, sự lương thiện nhuần hậu trong cá tính nóng nảy. Điều này, cũng cho thấy con người ngay thẳng trong chữ nghĩa và đời sống.

Nhà thơ Phan Hoàng. Ảnh: Họa sĩ Nguyễn Đình Ánh

Trở về, phân tích, kiếm tìm

Con đường thiên lý truy vấn hữu thể, con đường tìm kiếm. Phan Hoàng đến với thơ ca bằng khao khát. Sống với chữ bằng ước mong, ngủ với nghĩa bằng “dục năng”. Tự do nghệ thuật và dục năng liền mạch máu tủy. Tất nhiên không thể đồng nhất thơ Phan Hoàng vào địa hạt tính dục. Dục năng mang nghĩa lý rộng hơn “tính dục” đơn thuần. Có lẽ, bạn đọc nên thấy đằng sau cơn quẫy đập khát khao mong muốn, đằng sau lời thơ như “đường cong giới tính” là sự nghiêm túc với thơ ca nghệ thuật, ý muốn nhào luyện chưng cất chất rượu nồng nàn, vừa rất người lại rất đời. Nhất là thơ ca không xa lạ với người. Thơ Phan Hoàng dường như cuộc “tái ngộ”, “tái kiến”, “tái nhận thức” lại chính con người và nghệ thuật. Lời thơ đưa bạn lòng xa gần trở về gần gũi với chính mình. Nghệ thuật đáng quý bởi đó là nghệ thuật hướng về phía con người và không bỏ rơi con người.

người trở về chính mình

Tác tạo vẻ đẹp tinh hoa đất trời

Tác tạo nỗi khát khao cháy bỏng bản năng

Lên bầu trời tình yêu và tự do nghệ thuật

(gởi một nữ họa sĩ tạc tượng khỏa thân, hộp đen báo bão, tr.13)

Lắm khi, người thơ có lối truy vấn như tra khảo. Hẳn nhiên khảo chính mình, nhận diện thói quen. Trở lại mình, ngó xem hiện thể có thực sự hiện ra. Và rồi, hiện ra nhưng chẳng hữu, bởi thói quen đã triệt tiêu tính thể của “tôi”. Tôi “bỏ đi, bỏ đi, bỏ đi”. Hiện tượng mờ hóa khiến sự tại thế của hiện thể trôi tụt, phôi phai, lẩn khuất, đến mức tiêu biến. Người trung niên họ Phan một sáng nọ thức giấc. Buổi sáng của “hiện” chỉ “hữu” khi người ta thức giấc. Lời thơ gần như bản tường trình. Phan Hoàng phơi ra từng “mảng chữ nghĩa”, thử luận lý và truy xét bản thân qua con chữ. Người tìm kiếm điều gì? Không thể tìm thấy được, vì hư vô khiến người tỉnh thức nhưng tỉnh thức rồi tìm kiếm hư vô không thể đưa lại một bờ bến khả lý. Rốt cuộc, truy vấn chỉ để mà truy vấn. Kiếm tìm chỉ để mà tìm kiếm. Hình như, Phan Hoàng vẫn còn ngồi bần thần bên vệ đường cà phê buổi sáng.

Nhiều khi mắc cười tôi chất vấn tôi

tại sao con người cứ tự đánh lừa mình

bằng những thói quen

không học nổi con sông biết thích nghi

đổi dòng băng băng về phía trước?

(Chất vấn thói quen, tr.42).

Nhờ cuộc chất vấn, nhà thơ tìm kiếm và đôi chỗ người đã bắt gặp lịch sử quê hương mình. Nhưng, bạn đọc chắc cũng cảm thấy, sự kiếm tìm và tìm thấy chỉ ở mức sơ khởi. Lờ mờ trong làn sương sớm, tâm hồn Phan hoàng đã gặp gỡ quê nhà, nghe ra tiếng nói “dân tộc” lẩn khuất trong dáng vẻ hiện đại thành phố. Chất chứa đâu đó câu vọng cổ trong đô thị nhộn nhịp, len lỏi giữa bước chân rộn rã hối hả đương thời có bóng dáng bước chân “lưu dân” thời mở cõi. Đó là, những bài thơ đáng quý của họ Phan. Bởi con đường truy vấn chí ít đã có bờ bến. Và bến quê hẳn nhiên bền chặt thiết thân hơn cả.

Sâu thẳm lòng sông

hiện lên

hiện lên

những chiếc xuồng ba lá

chập chờn ánh đuốc lá dừa

rung rung búi tóc lưu dân tay cày tay cuốc

hào sảng tiếng cười trong veo

(…)

tiếng cười lan trên đường phố

chạm những nóc nhà cao tầng

âm vang vách hầm nối đôi bờ

nhớ thương tròn câu vọng cổ

(Tiếng cười trên sông Sài Gòn, Chất vấn thói quen, tr.50-51)

Bức tranh siêu thực chồng lấp các mảng cắt thời tính của Họ Phan dường như đặt ra cho bạn đọc băn khoăn về lịch sử hình thành và phát triển của những đô thị hôm nay trong guồng quay toàn cầu hóa. Quê hương qua thời gian dưới sức ép “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” liệu còn gì, mất gì! Rốt cuộc điều gì đáng giá đánh đổi cho cuộc diện hôm nay. Bằng cách đặt ra vấn đề, Phan Hoàng gieo ưu tư vào tâm tư người đọc. Bởi tâm tư nên đồng thời trăn trở, đó là truy vấn. Ưu tư là một biểu hiện khác của truy vấn. Phân tích được-mất, quá khứ-hiện tại, hoang địa-văn minh, bạn có thấy không: quá khứ đầy ắp bóng hình người sống động, hiện tại vắng lạnh hoang phế không có tiếng động. Một quá khứ tràn đầy sinh khí, tràn ngập hơi hám con người. Một hiện tại đô thị chật chội nhưng câm nín chẳng khác vùng hoang địa.

Bạn nghĩ gì về thành phố văn minh hiện đại hôm nay?

Hằng hà cuộc truy vấn tự thân trong tâm tưởng, họ Phan trở về và tìm kiếm nền tảng cứu chuộc, phục sinh nhân loại. Một bờ bến khả dĩ mà con người có thể tin vịn. Lấy đó làm cứu cánh lẫn phương tiện. Sau khi người rã rời qua bao nhiêu du hành, nhìn ngó khắp tinh cầu, phát hiện bao nhiêu “cái chết đen”, người trông cậy “vũ khúc trắng”. Cái chết đen treo lửng lơ trên mái đầu nhân loại. Nghèo đói, ly loạn, khủng bố, bệnh tật, độc tài, danh lợi, ích kỷ, … nhìn đâu đâu người cũng thấy văn minh loài người tiến về phía hủy diệt. Người bi quan chăng? Kỳ thực, người thơ dám đối diện nhìn nhận vấn nạn sinh hiện của loài người. Còn niềm tin và lạc quan, người ký thác ở vũ khúc trắng. Thơ và nghệ thuật nói chung. Bởi vì sao? Có lẽ họ Phan nhận thấy khả năng thức tỉnh nhân tính của nghệ thuật. Thơ ca không cần thiết “bổ béo”. Bài thơ nên là một liều thuốc đắng.

Vũ khúc trắng mang đến giấc mơ tái sinh

Từng giọt nước trong veo cho hành tinh cạn kiệt

Ám ảnh ngày tận thế

Trắng. Khởi nguyên trắng

Trắng. Ngọn lửa trắng

Trắng. Đốt tôi trắng

Trắng. Một làn hương thi ca bay qua mọi ảo tưởng phát minh lan tỏa từ thịt da căng nhựa trắng của nàng

(Cái chết đen & Vũ khúc trắng, Chất vấn thói quen, tr.69)

Để trở về người sử dụng ngữ thức phân tích, phân ra tích để truy. Truy tức dự phóng chiều hướng đạt tới. Ngữ thức phân tích của họ Phan:

Khẳng định à phủ định à phủ định phủ định

 

Chẳng hạn một số bài thơ trong tập Chất vấn thói quen:

  • Mắt gỗ = khẳng định (ngây thơ+sang trọng) àphủ định (chót lưỡi giả ngụy) à phủ định phủ định (hấp hối, trả thù, thất thanh, hờn căm, phát hỏa);
  • Khi người nông dân để lại cánh đồng = khẳng định (bò già kéo cày giữa trưa) à phủ định (không còn lai rai, bồn chồn, thiêm thiếp, hỉ hả) à phủ định phủ định (mây xám mệt mỏi, sân gôn, tường rào, khói đen, tiếng động cơ, thất bại);
  • Con trâu thiêng: khẳng định (thuốc rê, nhai trầu) à phủ định (thất thần, nước mắt xói mòn) à Phủ định phủ định (lũ trẻ lớn lên, người già về đất, con trâu bay vào cổ tích).

Với ngữ thức này, bài thơ Phan Hoàng thuộc về lối thơ luận lý. Lời thơ đưa bạn đọc hiểu ra bản chất đối tượng, đồng thơi đặt ra nhận thức mới về đời sống. Phan Hoàng thông qua thơ ca, lột mặt nạ đời sống (hư danh, huyễn danh, ngụy danh, …). Nhà thơ cũng giúp cho bạn đọc nhận ra cơn khủng hoảng sụp đổ đang diễn ra trên khắp quê hương. Khi văn minh hiện đại tràn lấp mọi ngõ ngách quê hương, những thiết chế vật chất tinh thần vốn có bắt đầu rung chuyển, lung lay, đổ ngã, tiêu biến. Con người không thể đứng yên.

Tiến hóa hoặc là chết!

Tiến hóa cũng là chết khi đang sống!

Phan Hoàng có đôi khi nóng nảy vung ra nấm đấm như người võ sĩ, có khi lạnh lùng nhát chém như đao phủ. Dự phóng thịnh nộ thể hiện một con người tư tưởng. Không thể cải biến, chỉ có thể vùng vẫy bằng chữ nghĩa, bắn mũi tên căm phẫn về phía “trí trá”.

đoạn phim buồn hơn cơn địa chấn

xô nghiêng những bảng vàng

thành tích giáo dục hư danh

đóng băng những cái lưỡi robot giáo điều đạo đức giả

còn bao nhiêu gương mặt lẩn khuất

tối tăm khuyết tật tâm hồn?

(Về một đoạn phim buồn, Chất vấn thói quen, tr.83)

3. Tạm kết

Người trí thức giữ lương tri thời đại. Sự thịnh nộ cho thấy một con người biết tự trọng. Phải chăng người trung niên họ Phan tự răn mình và khuyên người. Tuyên án cuộc đời, họ Phan trông đợi và tìm kiếm điều gì ở sinh hiện hôm nay. Có lẽ, người âu lo, ái ngại cho nền nhân tính giả danh và nhân danh hôm nay, đưa tới chỗ thui chột tính người, và nền văn minh của chúng ta bỗng lộ diện như dã thú trong thành phố bê tông. Ở thành phố đó, không còn chỗ dành cho nhân tính.

“Tôi thấy đáng thương những tâm hồn tật nguyền”[11].

Nhận định có phần chua chát của nhà thơ Phan Hoàng đáng để người thơ đương thời suy ngẫm. Bởi, công việc ích lợi cho cuộc diện văn học bây giờ nằm ở sự đóng góp bằng chữ nghĩa không phải tham dự vào thị phi. Đó cũng là tâm tư của Phan Hoàng với văn học đương thời.

Vượt qua sóng gió, Phan Hoàng trước sau vẫn hướng đến phụng sự phát triển văn học nước nhà. Mặc cho “gió tanh mưa máu nơi trường văn trận bút” làm thành thế sự và dẫu cho “lòng chẳng binh đao cũng chiến trường” thì Phan Hoàng – người thơ ấy -, vẫn an trú trong chữ nghĩa. Tâm hồn nhà thơ họ Phan – đứa con sông Đà núi Nhạn nơi đất Phú trời Yên – khác chi bước chân lạc đà lầm lũi và lặng lẽ qua sa mạc; với lòng chung dạ thủy giữ trọn niềm tin hướng về phía cách tân đổi mới, khơi mở sức sống chữ nghĩa đương thời. Vẫn còn quá sớm luận bàn về thành tựu “cách tân” mà Phan Hoàng, đang dốc sức cũng như nổ lực gầy dựng. Song, tôi tin rằng, người đương thời và có lẽ cả người ngày sau, sẽ nhắc nhớ tấm lòng của người thơ trung niên họ Phan đã hiến dâng những gì có thể hiến dâng cho sự tiến hóa của nền thi ca Việt Nam.

Sài Gòn, giữa trùng vây Covid-19 

Tiết Lập Thu, năm Tân Sửu, 2021

TRẦN BẢO ĐỊNH

__________________________

[1] Martin Heidegger (1973), Hữu thể và thời gian I, Quê hương, Saigòn, tr.8.

[2] Martin Heidegger (1973), Hữu thể và thời gian I, Quê hương, Saigòn, tr.9.

[3] Martin Heidegger (1973), Hữu thể và thời gian I, Quê hương, Saigòn, tr.9.

[4] Martin Heidegger (1973), Hữu thể và thời gian I, Quê hương, Saigòn, tr.10.

[5] “Đôi lúc tôi còn tự hỏi: Phải chăng việc tôi được tín nhiệm vào Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam cũng có công của những người ghen ghét giúp mình trưởng thành hơn?! Và lúc ấy trong tôi lại bừng lên cảm giác… đáng thương những tâm hồn tật nguyền!” (Nguồn: Phỏng vấn Phan Hoàng do Văn Nhân thực hiện trên Đất Việt (13/01/2021) https://datviet.trithuccuocsong.vn/van-hoa/goc-nhin-van-hoa/nha-tho-phan-hoangtoi-thay-dang-thuong-nhung-tam-hon-tat-nguyen-3425934/)

[6] Martin Heidegger (1973), Hữu thể và thời gian I, Quê hương, Saigòn, tr.10.

[7] Chẳng hạn:

–   W.B. Yeats tán dương sự cống hiến truyền thống thi ca hòa hợp tôn giáo chưng cất trong tâm hồn trí giả sau đó nhập hồn vào đời sống bình dân của xứ Bengal mà Taogre đã mang đến cho nhân loại. (Nguồn: Bài giới thiệu của Uw.B. Yeats trong Rabindranath Tagore (1971). Lời dâng (giới thiệu của William Butler Yeats, người dịch Đỗ Khánh Hoan). Saigon: Sáng Tạo xuất bản.

–  Diễn từ nhận giải Nobel của Kawabata (12/12/1968) khiến ta nhận ra ý muốn chuyển tải vẻ đẹp thi ca và lịch sử văn hóa xứ Phù Tang đến quốc tế. Tên bài diễn từ đã cho ta thấy điều đó: Tôi của Nhật Bản xinh đẹp (Japan, the Beautiful and Myself (do Edward Seindensticker dịch sang Anh ngữ, xem thêm bản dịch Việt ngữ của Nguyễn Nam Trân dịch xong ngày 13/01/2021). Nguồn: Kawabata Yasunari (1969). Japan, the Beautiful and Myself (trans. by E.G.Seidensticker). Tokyo: Kodansha.

–   Gabriel García Márquez cho rằng hiện thực “ngoại cỡ” của mảnh đất Mỹ Latin mới đáng cho Viện Hàn lâm Thụy Điển để ý chứ không phải thực tiễn bày trên chữ nghĩa. Nguồn: García Márquez, Gabriel (8/12/1982). The Solitude of Latin America (Speech). Stockholm, Sweden.

[8] Phan Hoàng (2015). Chất vấn thói quen (thơ, tái bản lần I). TP. Hồ Chí Minh: Nxb. Văn hóa-Văn nghệ, tr.11.

[9] Tạp chí Kiến thức ngày nay, số 450 ngày 10/2/2003

[10] Erich Neumann (2015).The Great Mother: An Analysis of the Archetype (trans. by Ralph Manheim and new foreword by Martin Liebscher). New Jersey: Princeton University Press.

[11] Nguồn: Phỏng vấn Phan Hoàng do Văn Nhân thực hiện trên Đất Việt (13/01/2021)



Tin tức khác

· CẢM THỨC CHIẾN TRANH VÀ NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ MIỀN NAM 1954 - 1975
· LẦN THEO DẤU CHÂN 'NHỮNG CON NGỰA THỒ VĂN CHƯƠNG' XỨ QUẢNG
· TẢN MẠN VỀ PHẨM GIÁ THƠ CA - Tiệu luận ĐẶNG HUY GIANG
· NHỮNG PHẬN NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA DƯƠNG HƯỚNG
· NHÀ THƠ ĐẶNG ĐÌNH HƯNG - MỘT CUỘC CÁCH TÂN THƠ ÂM THẦM - Tiểu luận NGUYỄN THỤY KHA
· 40 NĂM TÌM CON GÁI CHO CHA
· NƠI YÊN NGHỈ CỦA VỊ VUA 'HỒI HƯƠNG' SAU 46 NĂM Ở THANH HÓA
· VÀM CHÀ LÀ - MIỀN KÝ ỨC TUỔI THƠ CỦA LUẬT SƯ, CHỦ TỊCH NGUYỄN HỮU THỌ
· MỘT CƠN MƯA RẤT NHẸ TRÊN VAI TRỊNH CÔNG SƠN
· TẾT TRONG VĂN HỌC NAM BỘ HIỆN ĐẠI - KÝ ỨC BẢN ĐỊA TRƯỚC DÒNG CHẢY THỜI ĐẠI
· NGUYỄN BÍNH - NGƯỜI GỌI HỒN QUÊ - Tiểu luận HỮU THỈNH
· BỘN BỀ CUỘC SỐNG TRONG THƠ PHAN HOÀNG
· BẤT NGỜ... ĐỖ NGỌC YÊN
· HÃY SỐNG NHƯ NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT - MỘT NHAN ĐỀ ĐỘC ĐÁO
· NỖI NHỚ TẾT NHÀ QUA NHỮNG TRANG VIỆT NGỮ Ở HẢI NGOẠI
· TRUYỆN NGẮN HỒ LOAN VÀ HAI PHƯƠNG THỨC XÂY DỰNG NHÂN VẬT - Tiểu luận MAI BÁ ẤN
· PHẠM NGỌC CẢNH VÀ TÂM TÌNH MỘT NHÀ THƠ MẶC ÁO LÍNH
· CUỘC CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC - THẮNG LỢI VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ
· TRUYỆN NGẮN NĂM 2025 - MỘT NĂM ĐƯỢC MÙA - Tiểu luận HOÀI NAM
· DẤU XƯA NHẤT LINH

Tin tức mới
♦ CẢM THỨC CHIẾN TRANH VÀ NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ MIỀN NAM 1954 - 1975 (03/03/2026)
♦ LẦN THEO DẤU CHÂN 'NHỮNG CON NGỰA THỒ VĂN CHƯƠNG' XỨ QUẢNG  (03/03/2026)
♦ TẢN MẠN VỀ PHẨM GIÁ THƠ CA - Tiệu luận ĐẶNG HUY GIANG (03/03/2026)
♦ ĐÊM THƠ NGUYÊN TIÊU BÍNH NGỌ 2026 TẠI XÃ TAM MỸ: 'TRƯỚC BIỂN LỚN: QUÊ HƯƠNG - TIẾNG THƠ, NHỊP SÔNG' (03/03/2026)
♦ NGÀY THƠ VIỆT NAM TẠI TP HỒ CHÍ MINH: 'TIẾNG GỌI ĐÔ THỊ MỚI' (03/03/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 1907568
Trong thang Trong tháng: 178043
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 83933
Truc tuyen Trực tuyến: 5

...

...

Designed by VietNetNam