• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Diễn đàn lý luận
 
HOA NỞ KHÔNG ĐỢI NGƯỜI CHO PHÉP -Tiểu luận NAM THI

HOA NỞ KHÔNG ĐỢI NGƯỜI CHO PHÉP -Tiểu luận NAM THI



NGUỒN: Baovannghe.vn - 08/03/2026

NAM THI

Giống như hoa nở không đợi người cho phép, thơ sinh thành mà không chờ ai ban cho quyền tồn tại, cũng không cần được chỉ định phải tồn tại theo một cách thức nhất định nào.

“…nhưng nếu không có người, thì lấy ai đối thoại với hoa”.

Tôi bắt đầu với mệnh đề thứ nhất cùng lúc bắt đầu biết vẽ lòng mình bằng những con chữ trên mặt phẳng trắng. Vài năm sau, tôi nhận ra mệnh đề tiếp theo trong khoảnh khắc tôi nhìn thấy sự khao khát riêng tư của mình khi muốn kéo thơ ca ra khỏi… đền đài.

Tôi chưa bao giờ bước đến thơ bằng con đường định nghĩa. Và khi nhận được đề tài Phẩm giá của thơ, trong tôi cũng không hiện lên một khái niệm nào, mà chỉ vỏn vẹn hai câu thơ mình đã viết từ nhiều năm trước trong bài Một mình:

“Van nhờ vô nghĩa thụ thai

Sinh ra trống rỗng hình hài của thơ”

Tôi đã dành trọn một cái Tết Bính Ngọ để tự hỏi xem mình còn có thể nghĩ khác đi không. Cuối cùng, tôi vẫn quay về hai câu thơ ấy. Có lẽ, đối với tôi, phẩm giá của thơ không nằm ở việc nó nói được điều gì, mà ở chỗ nó được phép trống rỗng, một sự trống rỗng có được nhờ khả năng từ chối bị lấp đầy bởi những ý nghĩa tiền định. Sự trống rỗng mở ra một khoảng không, để từ đó, khi thơ phát ra muôn vàn tiếng gọi thì mọi hiện hữu khác có thể vọng lại như đang đồng hành trong quá trình nên thơ. Giống như hoa nở không đợi người cho phép, thơ sinh thành mà không chờ ai ban cho quyền tồn tại, cũng không cần được chỉ định phải tồn tại theo một cách thức nhất định nào.

PHẨM GIÁ CỦA THƠ CA TRONG CON MẮT NHÀ THƠ. Bài 2: Hoa nở không đợi người cho phép
Nhà thơ Nam Thi

Chính ở điểm này, phẩm giá của thơ không còn được đo bằng những thang giá trị bên ngoài, mà được nhận ra từ chính cách nó hiện diện trong đời sống. Khi thơ bị giữ lại trong đền đài, dù là đền đài của truyền thống, của giải thưởng hay của những thiết chế diễn ngôn, nó có thể được bảo tồn nhưng đồng thời cũng bị tước mất khả năng đối thoại. Và khi ấy, phẩm giá của thơ rất dễ bị đánh tráo bằng uy tín hình thức, thậm chí bằng những sự thừa nhận mang tính thù tạc. Với tôi, kéo thơ ra khỏi đền đài một nỗ lực trả thơ về với đời sống như một hiện hữu sống: mong manh nhưng tự do bất tận.

Trước hết, ta không làm thơ cho đời!

Tôi có một niềm tin sâu sắc rằng, mọi nhà thơ luôn luôn làm thơ cho chính mình và vì chính mình. Ngay từ khi còn là một cậu học sinh cấp 3, tôi đã viết trong cuốn sổ tay của mình: “Trong gian khó, tôi tị nạn vào thơ”. Ngay tại thời điểm đó tôi chưa thể sáng tác, thậm chí là vài năm sau tôi mới đích thực thấy mình không còn đứng trước “pháp trường trắng” (chữ của nhà văn Nguyễn Tuân) sau cơn mưa rào đầu tiên của mùa hè Hà Nội. Cơn mưa ấy mang đến cho tôi những dòng thơ:

“…Lời của Thu heo may

Lời của Đông lạnh giá

Xuân cất tiếng qua lá

Còn mùa Hạ là mưa.

Mùa Hạ mưa nhiều lắm

Ướt như đôi mắt em

Nhưng khi nắng chiếu lên

Long lanh và…

trong vắt.”

Ý thơ thật đơn giản, nhưng đó là lúc tôi thấy mình đích thực có thể bước một bước đầu tiên trong hành trình thơ. Chính lúc đó, tôi cũng nhận ra rằng, thơ đến một cách như nhiên đến mức chính người thơ cũng không rõ từ độ bao giờ, chỉ biết đến lúc nó hiện hữu là hiện hữu và mọi cuộc gượng ép đều chỉ làm đau con chữ. Vậy là tôi đã khởi động bằng một thái độ “hoa nở không đợi người cho phép” như vậy.

Thơ không được viết để đáp ứng một nghĩa vụ đại diện nào, và luôn đến trong sự cô độc không thể thay thế của mỗi cá nhân. Sáng tác thơ càng không phải là hành vi phát ngôn thay cho nhân loại, cũng không là một hình thức minh họa cho những chân lý có sẵn. Nhà thơ luôn đứng ở vị trí của một chủ thể tự chịu trách nhiệm với chính mình hay nhân cách sáng tạo của mình. Trong sự chịu trách nhiệm ấy, thơ giữ lấy phẩm giá, khi không mang nghĩa vụ đại diện, nhân cách sáng tạo trở thành nền tảng của phẩm giá, đúng như “người thơ phong vận như thơ ấy” (Hàn Mặc Tử) hay “Nhân cách của nhà văn chính là văn cách của anh ta” (Trần Dần). Và bởi vậy, thơ mới có quyền trống rỗng. Sự trống rỗng ấy khước từ những yêu cầu ngoại tại của thông điệp, công năng hay nhu cầu hữu ích tức thời… khiến thơ ca bội thực “tính tiêu dùng”.

Ở điểm này, tư tưởng của triết gia Đức Martin Heidegger cho một điểm tựa quan trọng khi ông viết “Ngôn ngữ là ngôi nhà của hữu thể” (Language is the house of Being). Và nếu như ngôn ngữ là nơi con người cư ngụ, thì thơ ca chính là cách con người hiện diện trung thực nhất trong ngôn ngữ.

Những điều ấy giải phóng nhà thơ khỏi gánh nặng về vai trò phát ngôn viên cho cộng đồng, cho thời đại hay một hệ giá trị trừu tượng nào đó. Phẩm giá của thơ không được đảm bảo bởi đề tài lớn, thông điệp hùng vĩ hay vị thế xã hội của người viết, mà bởi độ trung thực trong nhân cách sáng tạo. Lúc này, điều quan trọng là thơ không phản bội chính nhịp sống nội tâm đã sinh ra nó.

Phần vĩ thanh Trong Đêm Trong mà tôi thực hiện cho tập thơ đầu tay của mình, có một phần như sau: “i thích thơ. i vẽ lòng mình bằng những con chữ trên mặt phẳng trắng. Lòng i tầm thường, những con chữ của i cũng tầm thường. Lòng i cô độc, những con chữ của i cô độc. Lòng i tăm tối, những con chữ của i tăm tối. Nhưng i biết là trong màn đêm, sẽ chẳng thể thấy nổi dáng hình của chữ. i đành đem lòng mình phơi dưới nắng như người ta đem phơi cá chết, mong rằng nó sẽ không bốc mùi và biết đâu trở thành một sản vật có thể thưởng thức, những con chữ của i cũng phơi dưới nắng…

Ở dưới nắng, i thấy mình và chữ trở nên trong suốt. Chữ và bóng chữ thực chất là một, i và bóng i thực chất là một. Ai đó rồi cũng sẽ đọc những ký tự nghiêng của i, tiếp nhận bóng chữ cũng là tiếp nhận chữ, đi vào bóng i cũng là đi vào sâu tận đáy lòng i.

i mong chờ một cơn xúc động từ ai đó, khi đọc chữ của i, sẽ giật mình thảng thốt khi nhận ra họ cũng đang nghiêng dưới một luồng ánh sáng.”

“Thơ là nơi con người nói chuyện với phần sâu thẳm nhất của mình” (Nguyễn Quang Thiều), và khi người thơ đi đến tận cùng lòng mình bằng thơ, dù rất tối, rất cô đơn nhưng hoá ra không cô lập. Chính ở sâu thẳm riêng tư, những cái tôi khác bắt đầu vọng lại. Không phải bằng sự phổ quát hóa trải nghiệm cá nhân, mà bằng sự trung thực với chính mình, với những kinh nghiệm sống trên hành trình làm người, ta gặp nhau và chạm nhau sâu sắc. Phẩm giá của thơ hiện ra như một nghịch lý đẹp: thơ không viết cho tất cả, không đợi người “cho phép ra hoa”, nhưng có khả năng tạo nên những khát khao bên nhau và nắm lấy “một vòng tay lớn” (chữ của Trịnh Công Sơn).

Xét cho cùng, thơ ca gắn với nhân cách người viết hơn bất kỳ tiêu chí thẩm mỹ hay xã hội nào. Nhưng nhân cách ấy không khép lại trong cô độc. Sau khi đã sinh thành từ một nội giới sâu kín, thơ đứng trước một câu hỏi khác: câu hỏi về đối thoại.

Một hiểu lầm về giữ gìn phẩm giá

Trên hành trình thực hành thơ của mình, tôi nhận ra thơ đang không được nhìn nhận đúng trong đời sống văn hóa đương đại. Thơ dường như bị nhìn nhận như một hình thức nghệ thuật quá cao, quá xa, hoặc quá đặc thù khiến nó bị đẩy vào đền đài của sự tôn kính xa cách.

Ở Việt Nam, mọi người hay nói vui là “thở ra thơ”, nhưng nghịch lý là việc nghe tới thơ không hiếm khi gợi cảm giác khó, xa, thậm chí… hâm hâm. Hình ảnh nhà thơ nhiều khi bị các sản phẩm truyền thông đại chúng khai thác như một nhân vật sống bên lề đời sống thường nhật với sự ngây ngô, đầu óc trên trời hay xa rời thực tế… Trong cách nhìn ấy, thơ trở thành một cái gì đó vừa được ngưỡng mộ, vừa bị tránh né.

Thực ra, với căn cước là một người trẻ đô thị hiện đại hôm nay, tôi mang một tâm thế thấu hiểu cho những gì diễn ra, chứ không phản kháng. Trên thực tế, ta đang sống trong thời đại của nghe-nhìn. Sự phát triển của công nghệ, của mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo (AI) đích thực có năng lực quy định thói quen thẩm mỹ của con người. Một ví dụ điển hình, khi Facebook tạo thuật toán làm tăng tương tác cho hình chụp (photo), xã hội tập trung sản xuất hình ảnh, điều đó cứ tiếp tục tương tự với video dài và tới bây giờ là video ngắn kiểu TikTok, Reel… dẫn đến xu hướng tiêu thụ các sản phẩm văn hóa nhanh, gọn, ngày càng phát triển mạnh mẽ.

 

Trong bối cảnh này, văn, thơ nói riêng hay các sản phẩm liên quan tới ngôn ngữ và đọc ngôn ngữ đã mất vị thế từ lâu, từ đó nó vô tình bị cho là chỉ dành cho số ít, bị đẩy vào đền đài với mong mỏi giữ gìn chút phẩm giá trước khi bị tha hóa. Người đọc tự loại mình ra khỏi khả năng tiếp cận, không phải vì thơ khép kín, mà vì họ được xã hội định hình rằng thơ là một lãnh địa đặc thù. Trong khi đó, nhà thơ lại bị đẩy vào một hình ảnh dị biệt, như thể việc làm thơ tự nó đã là một trạng thái khác thường.

Như đã nói, tôi làm thơ cho chính mình và chia sẻ trên mạng xã hội như một giãi bày. Thời điểm mới bắt đầu, tôi không có bạn bè hay cộng đồng văn chương, nhưng tôi lại thấy một điều thú vị khi mọi người xung quanh tôi, những người không thường tiếp xúc với văn học-nghệ thuật, nhận ra thơ ca vẫn đang chuyển động trong đời sống hôm nay, bên cạnh họ, chứ không dừng lại ở  sách giáo khoa. Ở nhóm độc giả này, họ tiếp xúc với người thơ trước, sau đó mới tiếp xúc với thơ, thậm chí là tiếp xúc với hình thức của thơ trước, sau đó mới tiếp xúc đến bản chất của thơ. Tôi được khơi dậy khao khát “đốt đền”, hay chính là sự mong mỏi đưa thơ gần hơn với đời sống để có người “đối thoại với hoa”.

Đối thoại với hoa

Thơ không cần ai, kể cả người đọc, để được sinh thành, nhưng thơ cần đối thoại để chung sống. Đối thoại không làm mất đi tự do ban đầu vì nó diễn ra trên nền tảng của tự do ấy, tức là mời người đọc góp thêm tiếng nói vào khoảng không trống rỗng để cùng tạo nghĩa, đồng cảm và đồng hiện.

Đối thoại đúng nghĩa là khi thơ và người đọc cùng hiện diện trong một trường cảm thụ, nơi không bên nào áp đặt bên nào. Đối thoại hôm nay đang diễn ra ở đa không gian chứ không chỉ trong trang sáng.Trước nhất, vì hình trình thực hành thơ của tôi xuất phát điểm trên nền tảng mạng xã hội, nên với tôi đây là một bảo tàng để lưu trữ và trình hiện thơ quan trọng. Với câu chuyện về “đền đài” ở trên, những nhà thơ trẻ không dễ xuất bản thành sách một cách chính danh, nhưng nếu không in sách thì bạn có phải một người sáng tác thơ hay tạm gọi là nhà thơ? Tôi khẳng định là có.  Sách, không gian số, âm thanh… đều là những nền tảng hiện hữu (platform) chứ không phải bản chất của thơ. Ở đó, thơ lan truyền mạnh mẽ và được đặt vào những mối quan hệ cảm thụ khác nhanh hơn, phân mảnh hơn nhưng cũng cởi mở hơn. Không gian này cho phép nhiều hình thức thơ cùng tồn tại, cả dòng chính lẫn dòng ngầm. Ngay tại đây, có một cách nhìn về phẩm giá của thơ khá thiên kiến về việc thơ in trong sách thì “cao cấp” và “uy tín” hơn thơ trên mạng, nhưng đúng hơn, phẩm giá của thơ nằm ở khả năng giữ được sự trung thực của nhân cách sáng tạo và tự do sáng tạo trong không gian ấy. Giống như mọi không gian khác từng xuất hiện trong lịch sử văn chương, không gian số không làm thay đổi bản chất của thơ, mà đặt thơ trước những thử thách mới. Vượt qua hay không vượt qua những thử thách ấy phụ thuộc vào tư thế sáng tạo, không phụ thuộc vào nền tảng.

Từ nhu cầu đối thoại, thơ có thể tìm đến những hình thức biểu đạt khác nhau mà không sợ đánh mất bản chất của mình. Bản chất các loại hình nghệ thuật dù tách biệt về mặt hình thức, nhưng ý thức của chúng luôn nằm trong nhau. Thơ không chỉ biểu ý về mặt ngôn ngữ, mà cả biểu âm và biểu hình. Tính liên ngành vốn đã sẵn trong thơ, vậy nên nó không phải là một sự pha trộn nhằm tạo hiệu ứng mới lạ, mà là làm đậm sự đồng hiện ở tính hình để mở rộng điều kiện tồn tại của thơ.

Trong hành trình sáng tác của mình, tôi nhận thức rất rõ xã hội đã ít dành sự quan tâm cho thơ ca hơn ngày xưa rất nhiều, thay vào đó là giải trí, nghe-nhìn như đã trình bày. Nhưng ta sinh ra đâu phải để chống lại sự tiến bộ của công nghệ hay sự phát triển chung của xã hội. Tôi không ngừng tìm đến những người bạn đang thực hành nghệ thuật ở các loại hình khác như hội họa, âm nhạc, vũ đạo… hay cả các loại hình hiện đại hơn như trình diễn chuyển động, thời trang, ẩm thực, sắp đặt… và đề nghị những cuộc đồng hành. Sự đồng hành mở ra những khuynh hướng cảm xúc mới mẻ, đánh động những chân trời thẩm mỹ trong lòng người thưởng thức.

Mỗi hình thức biểu đạt mang một cấu trúc cảm thụ riêng. Khi thơ bước vào những cấu trúc ấy và đề nghị lấy thơ làm trung tâm, nó đã bước đầu ý thức về việc không trở nên dễ dãi và nông cạn. Thơ không đối lập với thị giác, bản thân ký tự cũng là thị giác, càng không sợ sự phát triển của các phương tiện biểu đạt hiện đại. Qua đó thấy rằng, phẩm giá của thơ không bị đe dọa bởi hình thức.

Có lần trong triển lãm thơ đầu tiên mà tôi thực hiện tại TP. Hồ Chí Minh, có một bạn khán giả phân vân liệu việc thị giác hóa như thế này có làm hỏng thơ. Tôi có chia sẻ lại rằng, hình thức lạ lẫm sẽ hữu ý đánh động mối quan tâm dành cho thơ đã bị quên lãng, và đừng lo, rồi chúng ta sẽ luôn tìm về hình thức thân thuộc và bản nguyên thơ ca vì tâm lý luôn là lá rụng về cội. Để rồi ta nhận ra hình thức không làm hỏng thơ nếu như nhân cách sáng tạo luôn không ngừng khám phá những sâu thẳm.

KẾT

Từ toàn bộ những suy tư của mình, với tôi, phẩm giá của thơ không phải là một trạng thái cố định, mà là một chuyển động. Một chuyển động bắt đầu từ quyền tự sinh thành và tiếp tục trong đối thoại. Một chuyển động vừa giữ được sự cô độc cần thiết, vừa mở ra khả năng cộng hưởng sâu rộng.

Thơ giữ phẩm giá khi nó có quyền trống rỗng, không bị buộc phải đại diện cho điều gì, không bị đẩy lên tháp ngà, và không bị khóa trong một hình thức duy nhất. Thơ cũng giữ phẩm giá khi nó dám bước vào những không gian mới mà không đánh đổi nhân cách sáng tạo

Trong nghĩa ấy, thơ không cần được cứu khỏi đời sống, cũng không cần được bảo vệ bằng những đền đài. Thơ chỉ cần được đặt đúng tư thế của nó: một hiện hữu tự do, luôn trong quá trình sinh thành và đối thoại.

----------

Tham luận tại hội thảo "Phẩm giá của Thơ ca"



Tin tức khác

· NƯỚC NAM HÁN TỪNG ĐẠI BẠI TRƯỚC NGÔ QUYỀN DO AI THÀNH LẬP, TỒN TẠI BAO NHIÊU NĂM, CÓ MẤY VỊ HOÀNG ĐẾ?
· TRÊN CON ĐƯỜNG ĐẾN VỚI PHẨM GIÁ CỦA THƠ CA - Tiểu luận TRƯƠNG ĐĂNG DUNG
· HOA NỞ KHÔNG ĐỢI NGƯỜI CHO PHÉP -Tiểu luận NAM THI
· TIỂU LUẬN VŨ QUẦN PHƯƠNG - PHẨM GIÁ CỦA THƠ CA
· ĐOÀN PHÚ TỨ - ĐƯỜNG ĐỜI BAO NỖI
· 'MẬT MÃ' MỐI TÌNH PHẠM THÁI - QUỲNH NHƯ
· THI BÁ ĐƯỢC ĐỀ CỬ GIẢI NOBEL - TÀI NĂNG KHÔNG KÉM XUÂN DIỆU, HUY CẬN
· KHI MẶC KHÁCH VIẾT VỀ MẶC KHÁCH
· TIỂU LUẬN NGUYỄN KHOA ĐIỀM - PHẨM GIÁ CỦA THƠ CA
· CẢM THỨC CHIẾN TRANH VÀ NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ MIỀN NAM 1954 - 1975
· LẦN THEO DẤU CHÂN 'NHỮNG CON NGỰA THỒ VĂN CHƯƠNG' XỨ QUẢNG
· TẢN MẠN VỀ PHẨM GIÁ THƠ CA - Tiệu luận ĐẶNG HUY GIANG
· NHỮNG PHẬN NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA DƯƠNG HƯỚNG
· NHÀ THƠ ĐẶNG ĐÌNH HƯNG - MỘT CUỘC CÁCH TÂN THƠ ÂM THẦM - Tiểu luận NGUYỄN THỤY KHA
· 40 NĂM TÌM CON GÁI CHO CHA
· NƠI YÊN NGHỈ CỦA VỊ VUA 'HỒI HƯƠNG' SAU 46 NĂM Ở THANH HÓA
· VÀM CHÀ LÀ - MIỀN KÝ ỨC TUỔI THƠ CỦA LUẬT SƯ, CHỦ TỊCH NGUYỄN HỮU THỌ
· MỘT CƠN MƯA RẤT NHẸ TRÊN VAI TRỊNH CÔNG SƠN
· TẾT TRONG VĂN HỌC NAM BỘ HIỆN ĐẠI - KÝ ỨC BẢN ĐỊA TRƯỚC DÒNG CHẢY THỜI ĐẠI
· NGUYỄN BÍNH - NGƯỜI GỌI HỒN QUÊ - Tiểu luận HỮU THỈNH

Tin tức mới
♦ CHÙM THƠ TRANG THANH - TRÊN CON ĐƯỜNG TÓC (10/03/2026)
♦ NƯỚC NAM HÁN TỪNG ĐẠI BẠI TRƯỚC NGÔ QUYỀN DO AI THÀNH LẬP, TỒN TẠI BAO NHIÊU NĂM, CÓ MẤY VỊ HOÀNG ĐẾ? (10/03/2026)
♦ TRÊN CON ĐƯỜNG ĐẾN VỚI PHẨM GIÁ CỦA THƠ CA - Tiểu luận TRƯƠNG ĐĂNG DUNG (10/03/2026)
♦ HOA NỞ KHÔNG ĐỢI NGƯỜI CHO PHÉP -Tiểu luận NAM THI (10/03/2026)
♦ CHÙM THƠ HUỲNH NGỌC PHƯỚC Ở AN GIANG (07/03/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 1920921
Trong thang Trong tháng: 191394
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 85122
Truc tuyen Trực tuyến: 13

...

...

Designed by VietNetNam