TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
MỘT TẤM LÒNG ĐAU ĐÁU LÀNG YÊN
MỘT TẤM LÒNG ĐAU ĐÁU LÀNG YÊN
HÀ QUẢNG
Tên thật Đoàn Văn Khánh
Sinh năm 1961 tại Tư Nghĩa, Quảng Ngãi
Nghề nghiệp: Giáo viên
Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi.
***
TÁC GIẢ HÀ QUẢNG
Lê Thanh Phách tính tình hiền lành, biết chơi cây kiểng, yêu thơ và làm thơ hay. Những người như vậy tôi thường rất mến. Từ khi quen biết, rồi được đọc những bài thơ của anh đăng trên các báo, tạp chí ở địa phương và trung ương tôi cảm thấy quý anh. Anh vừa ra mắt bạn đọc tập thơ “Về giữa làng Yên” do Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh ấn hành vào tháng 11 năm 2008.
ẢNH LÊ THANH PHÁCH
Đọc tập thơ, tôi nhận thấy cả một tấm lòng của anh đối với quê hương. Quê anh ở thôn Yên Mô, xã Đức Lợi, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Cái thôn nho nhỏ đó, nằm phía Nam cuối dòng sông Vệ. Tôi đã nhiều lần đến nhưng một hôm tôi cùng anh và một số thi hữu nữa trở lại, anh có chỉ chỗ nhà anh ở trước kia. Và chính nơi ấy, anh đã sinh ra nhưng bây giờ chỉ còn là dấu vết. Vì thời gian trôi qua vật đổi sao dời, khoảnh đất nhà anh đã bị nước cuốn trôi. Điều này được anh tâm sự:
Không một mái tranh
Chỉ có bóng con đò
Tròng trành mưa gió ngã nghiêng
Con đò,không tấm mui che
Bờ tre làng, lụt Giáp Thìn cuốn sạch
Mẹ khắc khoải ôm tôi còn đây manh chiếu
Lênh đênh con đò trôi giạt trời khuya (Ngày ấy bên sông)
Đến bây giờ anh vẫn còn cảm thấy Rung mãi vành nôi tre của mẹ. Lời của mẹ ru là dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn anh để anh có những vầng thơ thật đẹp khi viết về làng Yên.
Làng Yên cũng như bao làng quê Việt Nam khác có lũy tre làng, có bến đò, có cây đa, giếng nước và có tất cả những gì thân thuộc nhất trong mỗi con người chúng ta. Hình ảnh người mẹ được anh thể hiện xuyên suốt tập thơ. Đó là người mẹ suốt đời tần tảo, vất vả, khó nhọc, nhẫn nhục nuôi con. Chúng ta thử nghe những vầng thơ anh viết về mẹ:
Mạ non sóng sánh đường cày
Đồng sâu dáng mẹ mong ngày đợi đêm (Lúa làng ta)
Gió se sắt thổi ngày đi đồng không mông quạnh
Chiều đông
Bóng mẹ trên đồng (Trên đồng)
Mẹ nuôi tôi chắt chiu từng gié lúa
Gót đường làng, giờ mẹ chiếc lá rơi (Bên đường)
Thương về trên bến đò ngang
Chiều nay mẹ đứng cuối làng chờ ta (Mẹ)
Bây giờ anh đang sống, cách nơi ở cũ của anh một con sông nhỏ cũng thuộc xã Đức Lợi, nhưng lòng anh đau đáu và hướng về làng Yên:
Làng tôi bên sông
Mùa nước lớn
Níu chân về
Mẹ là gió đêm dài mải miết
Gió nồng thơm khi tiếng khóc chào đời (Quê cũ)
Niềm khát khao ấy, được anh bộc bạch trong bài “Về giữa làng Yên”:
Ta trở về thương mến với em thôi
Cánh đồng quê xanh mấy bờ hoa dại
Vườn nhà bên tháng Giêng vàng hoa cải
Phiên chợ cuối chiều em tất tả sớm hôm
…
Ta trở về với chiều ngẩn ngơ sông
Nhớ gò bãi quạnh hiu vài sợi khói
Lũ trẻ ngày xưa chân trần áo vải
Chiều lại chiều vươn khúc điệu đồng giao.
Hình ảnh quê hương luôn in đậm trong trong tâm trí của anh gắn liền với những kỷ niệm khó quên:
Tôi lớn lên Nhờ cái nơm cái vó
Mấy chiều theo mẹ mót ngô khoai
Hạt gạo tháng giêng hơi cháo cầm ngày
Đường đến trường làng liêu xiêu bóng chữ
Áo lưng trần trong giá rét cha đi (Ngày bên sông)
Kỷ niệm tuổi thơ để lại trong anh những hình ảnh thật đẹp giàu sức gợi cảm:
Thầm gọi con đường ngày xưa đến lớp
Chiếc cầu tre lấp lẻ phía sông Ngang
Tàu mo cau oằn tiếng chim dồng dộc
Chợt đêm nào rơi rụng giữa thênh thang
(Chút tình đất quê)
Lớn lên theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, anh lên đường tòng quân nhập ngũ. Ngày anh ra đi có người con gái làng Yên đưa tiễn. Anh chưa nói được điều gì trong buổi chia tay, nhưng hình ảnh người con gái ấy luôn trong tâm trí và theo anh đi khắp các nẽo đường của đất nước. Ngày về, anh muốn bày tỏ nỗi lòng của mình với người con gái ấy nhưng bây giờ người ấy thuộc về người ta. Hình dáng người con gái năm xưa chỉ để lại cho anh nỗi nhớ và anh chỉ biết tiếc vì sự chậm trể của mình mà thôi:
Vẫn bên bờ sông
Ngày em lấy chồng
Tôi âm thầm đầu ngõ
Gánh qua chợ làng mấy mớ trầu xanh
Trễ tràng (Quán chợ làng)
Vẻ đẹp của làng Yên trong ngày hội làng và tâm trạng của anh khi trở về:
Tôi về gặp lại tháng Giêng
Cỏ may đan áo một triền đê xanh
Hội làng nhịp trống dồn canh
Đường quê như thuở mộng lành đầy trang
(Gặp lại tháng Giêng)
Hiện tại, anh đang sống và làm việc tại xã Đức Lợi, chắc chắn rằng với tấm lòng yêu quê hương sẽ tạo cho anh một năng lực mới để anh góp phần xây dựng quê hương, nơi vùng biển đẹp như nỗi lòng của anh gửi trong tập “Về giữa làng Yên”. Chắc chắn tuổi thơ ở nơi này không còn cái tuổi thơ ngày xưa Mấy chiều theo mẹ mót ngô khoai, mà bây giờ tuổi thơ sẽ được đến trường, được chăm sóc đầy đủ trong bàn tay âu yếm của gia đình, của xã hội.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.