TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Thi hữu
CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 4. CHÙA TIỀN NHƠN - Hồi ức MAI BÁ ẤN
CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 4. CHÙA TIỀN NHƠN - Hồi ức MAI BÁ ẤN
Hồi ức MAI BÁ ẤN
Liền kề Khu vườn nhà thứ 1 bên tả ngạn sông Trầu của họ tôi, về phía Tây Nam là ngôi Chùa Tiền Nhơn (Vườn chùa vẫn còn, nằm ở phía Tây Bắc cách Nhà thờ Tộc Mai tôi hiện nay khoảng vài ba trăm mét). Cái tên gọi của chùa này cũng khá lạ! Gọi là “Chùa” mà không thờ Phật, chỉ thờ “tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ” một vùng đất. Bên cạnh chùa là một cây bàng cổ thụ gắn liền với tuổi thơ tôi:
Ngọn bàng già Dồng dộc về xây tổ
hót ríu ran trong bảng lảng trời chiều
Chùa Tiền Nhơn lam một màu rêu cổ
Cha vuốt râu ngâm lửng mấy câu Kiều (Làng tôi).
Chùa Tiền Nhơn bên góc trái ảnh (nay bị cỏ dại bao trùm). Bên phải chính là cây Bàng (nay đã bị cây Sang ký sinh)
Từ sau ngày thống nhất đất nước, đất vườn chùa thành đất công của Hợp tác xã và lúc đó cũng dấy lên phong trào “chống mê tín dị đoan”, nên ngôi chùa dần dần hoang phế. Cũng đã có nhiều họ lớn trong xã định khôi phục lại vì chùa nằm trên đất họ mình và cũng thờ tiền hiền họ mình, nhưng cũng không thành. Hiện nay, tấm bình phong cổ xây bằng vôi và mật ong không còn, cỏ mọc trùm cả mái chùa. Chùa hoàn toàn hoang phế. Cây Bàng bên trái chùa hiện nay cũng bị cây Sanh ký sinh, chung sống nên tàn lá không còn dày rộng như xưa. Hình ảnh ấy đã ám vào thơ tôi khi trở về làng cũ:
Về quê đi tìm hồn quê
cây đã trốc gốc trôi về biển khơi
Cái năm mưa lũ ngút trời
mái đình xiêu đổ sụp rồi… bên sông (Rước hồn quê).
Cái “cây đa mái đình” truyền thống ấy chính là hiện thân của cây Bàng và ngôi Chùa Tiền Nhơn của làng tôi vậy!
Cái sự lạ “chùa mà chỉ thờ người, không thờ Phật” ấy lẩn quẩn mãi trong tâm trí tôi cho đến gần đây trong một dịp về quê, tôi mới biết, Chùa Tiền Nhơn vốn trước đây là một ngôi chùa thờ Phật thật sự lúc đầu lợp bằng tranh (Chùa Tranh). Nhưng không hiểu sao, chẳng có vị trụ trì nào ở được, nên phải bỏ đi để lên Xóm Nam Mú cùng thôn xây chùa mới. Từ đó ngôi chùa được các họ tộc lớn cùng dân làng cải tạo dùng làm nơi thờ các bậc tiền hiền, hậu hiền nên có tên là “Chùa Tiền Nhơn” (Tiền Nhơn = “tiền nhân”, nghĩa: “người trước”). Cũng không hiểu sao, con đường chính của làng thì nằm ở phía Nam vườn chùa mà chùa không quay mặt về hướng Đông Nam theo quan niệm phong thủy cổ truyền mà lại quay về hướng gần như chính Bắc (?) đối diện với Vũng Chùa ngay bờ nam Đầm Ông Hoành (cha tôi). Theo tôi suy ngẫm thì có lẽ, do phía Bắc là con sông Trầu nên chùa quay mặt ra sông chăng?
Tuổi thơ tôi vào mùa Bàng chín, trưa tròn bóng trốn nhà ra vườn chùa leo lên hái Bàng để ăn. Những trái chín mọng ngoài đầu cành thì dùng gốc khoai mì (riêng quê tôi gọi là khoai Xiêm) để ném. Hết mùa Bàng chín, lại cũng tha thẩn ra gốc Bàng dùng đá ghè hột để lấy nhân ăn. Nhân hột Bàng khô, béo thơm hơn cả đậu phụng. Cho mãi đến bây giờ cái vị bùi thơm của hạt Bàng tuổi thơ vẫn như còn vương hương thơm trong đầu và thấm vị bùi trên lưỡi.
Cái cây Bàng Chùa Tiền Nhơn này đặc biệt gắn riêng với cái tên của tôi, mà cho đến bây giờ, tôi xin nói rõ. Đó là sự kết hợp cả hai yếu tố: tâm linh và xã hội. Chuyện là vầy: Năm 1971, tôi học lớp Nhứt (lớp 5 hiện nay), đột nhiên, một hôm hai bắp chân tôi sưng lên, đau nhức mà không rõ lý do. Cha tôi là một thầy thuốc Bắc khá nổi tiếng nhưng đã mất trước đó 1 năm. Mẹ tôi nghi ngờ do chuyện bỏ nhà buổi trưa đi leo trèo quấy phá và ném quả Bàng ở Chùa Tiền Nhơn, nên lặng lẽ đi coi thầy. Thầy phán y như rằng: “Nó hay ra vườn chùa quấy phá vào buổi trưa tròn bóng nên bị các ngài quở. Hơn nữa do cái tên “Én” của nó lại trùng tên với một vị thần nên phải về cúng xin đổi tên ngay!”. Đó là câu chuyện tâm linh. Còn chuyện xã hội thì như thế này: Tên thật của tôi do cha mẹ đặt là “Én” - tên một loài chim (vì anh trai kế tôi tên là “Nhạn”). Cho nên khi tham gia tổ chức Gia đình Phật tử tôi được Đại đức Thích Hành Giải ban Pháp danh là Đồng Yến. Tôi mang cái tên này từ nhỏ cho đến hết bậc tiểu học. Vào năm lớp Nhứt cuối cấp học, khi chuẩn bị cấp Bằng Tiểu học và làm hồ sơ thi vào Lớp Đệ thất Trung học Đệ nhất cấp (lớp Sáu Trung học cơ sở bây giờ), thầy Nguyễn Kinh - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Kỳ Sanh thấy trên Bằng ghi là: “Mai Bá Ắn” liền cho văn phòng lục lại Giấy Khai sinh, mới nhận ra cái tên “Én” ghi trong danh sách học sinh lại không đúng với tên trong khai sinh là “Ắn”. Mà chữ “Ắn” trong tiếng Việt lại không có nghĩa, chỉ do cái tiếng phát âm của địa phương “Én” đọc thành “Ắn” nên cán bộ hộ tịch ghi trong Giấy Khai sinh cũng đúng theo tiếng phát âm, vì thế “Én” trở thành “Ắn”. Thầy Hiệu trưởng liền lập tức đem Giấy Khai sinh dùng bút đen phẩy một nét ngược lại để biến dấu “á” (Ă) thành dấu “ớ” (Â) và chỉnh sửa tất cả hồ sơ học tập. Vậy là lập tức, cái tên “Én” rất nữ tính trở thành “Ấn” rất vững vàng và nam tính cho mãi đến ngày nay. Kết hợp cả hai yếu tố, mẹ tôi liền sắm một mâm cúng cáo thần linh và tổ tiên, ông bà để cải tên tôi từ “Én”/ (Ắn) thành “Ấn”.
Nghe chuyện tên tôi, ai cũng bảo: May mà thầy Hiệu trưởng sửa tên chứ nếu không, chắc sẽ chẳng có Mai Bá Ấn như bây giờ. Riêng tôi thì tôi nghĩ, bên cạnh ứng xử rất nhân văn của thầy Hiệu trưởng, thì… dường như cũng có chuyện tâm linh về mệnh số một con người, một dòng tộc: Trừ anh Ba và chị Bốn mất khi còn nhỏ, trong chín anh chị em trưởng thành chỉ duy nhất một mình tôi (thứ 9) được học hành, đỗ đạt cao và trở thành viên chức nhà nước, còn tất cả hoặc thất học hoặc chỉ học hết tiểu học, trung học, rồi đi lính trước 1975, đi bộ đội sau 1975 và làm ruộng ở quê.
TRONG ẢNH: BÊN TRÁI CHÍNH LÀ NGÔI CHÙA CŨ ĐÃ BỊ DÂY LEO PHỦ LẤP, THẤP THOÁNG PHÍA SAU CAO HƠN LÀ NGÔI NHÀ DÂN MỚI XÂY, BÊN PHẢI CHÍNH LÀ CÂY BÀNG (ẢNH DO CHÁU MAI THỊ BIÊN THÙY CHỤP SÁNG 02/9/2026 GỞI VÀO)
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.