TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Tin văn
SẼ GIỚI THIỆU THƠ BÍCH KHÊ Ở CÁC NƯỚC CÓ SỬ DỤNGTIẾNG PHÁP
SẼ GIỚI THIỆU THƠ BÍCH KHÊ Ở CÁC NƯỚC CÓ SỬ DỤNGTIẾNG PHÁP
Nhà xuất bản Văn học vừa biên soạn và ấn hành tuyển tập song ngữ Việt – Pháp “Bích Khê - Thơ chọn lọc”. Tập thơ do dịch giả Hoàng Hữu Ðản chuyển ngữ sang tiếng Pháp và Công ty cổ phần Cadasa hợp tác thực hiện.
Tập thơ chọn lọc song ngữ Việt - Pháp của Bích Khê bao gồm nhiều bài thơ hay, được chọn từ di sản thơ ca ông để lại. Trong thời gian sắp tới, tập thơ này sẽ được phát hành trong cả nước và giới thiệu với bạn đọc ở các nước có sử dụng tiếng Pháp.
Thi sĩ Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương, sinh tại quê ngoại là làng Phước Lộc (tức xã Tịnh Sơn), huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Ông là một trong những người đi tiên phong của phong trào Thơ mới 1930-1945 và để lại một dấu ấn khá đậm trong nền thơ ca Việt Nam.
Bích Khê được đăng thơ từ lúc còn đi học, ban đầu theo các thể thơ cũ (hát nói, thơ Ðường luật); từ năm 1935, ông chuyển hẳn sang Thơ mới. “Tinh huyết” (1939) là tập thơ duy nhất được in khi tác giả còn sống. Sau khi mất, ông để lại các tập thơ chưa in là: “Mấy dòng thơ cũ” (1931 - 1936), “Tinh hoa” (1938-1944), “Ðẹp” (1939).
Thơ của Bích Khê có hình ảnh và âm hưởng của nhạc điệu. Đọc thơ ông, độc giả thấy dâng trào những cảm xúc sống động của đời thường, nỗi rạo rực lẫn những si mê, ngây ngất và cũng chất chứa những khát vọng mãnh liệt về con người, về cái đẹp vĩnh hằng, về những niềm cô đơn sâu thẳm, những nỗi trăn trở khôn nguôi của một kiếp người.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.