• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Tin văn
 
"VĂN TẾ NGHĨA DÂN CHẾT TRẬN CẦN GIUỘC" - ÁNG VĂN BẤT HỦ VỀ NGƯỜI NÔNG DÂN CHỐNG NGOẠI XÂM

"VĂN TẾ NGHĨA DÂN CHẾT TRẬN CẦN GIUỘC" - ÁNG VĂN BẤT HỦ VỀ NGƯỜI NÔNG DÂN CHỐNG NGOẠI XÂM



Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc thường được biết với tên Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là một tác phẩm được hàng triệu người Việt Nam biết đến thông qua các sách giáo khoa Ngữ văn từ hơn 50 năm nay. Trong “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể” mới nhất do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm 2018, tác phẩm này cùng với bài thơ Nam quốc sơn hà (khuyết danh), bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi và Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là những tác phẩm bắt buộc không thể thiếu trong các bộ sách giáo khoa Ngữ văn. Trong Từ điển văn học thế giới xuất bản ở Pháp năm 1994 – mục từ “Nguyễn Đình Chiểu”, sau khi đề cập đến tác phẩm Lục Vân Tiên, từ điển này ghi nhận giá trị một tác phẩm nữa của ông là bài văn tế nói trên:

“Trong các lễ tang lớn, Nguyễn Đình Chiểu còn nổi tiếng với các bài văn tế tưởng nhớ những người kháng chiến chống thực dân Pháp như: Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc, Văn tế Trương Định, Văn tế sĩ dân trận vong Lục tỉnh. Các tác phẩm này thể hiện sâu sắc truyền thống yêu nước Việt Nam, đồng thời trong các bàivăn tế này, từ thực  tế lịch sử chống Pháp nổi lên hình tượng người nông dân, nhân vật sau này trở thành một nhân vật quan trọng trong văn học Việt Nam hiện đại” (Béatrice Didier chủ biên, tr.4030).

Trong bài viết này chúng tôi cung cấp thêm tư liệu lịch sử xung quanh bài văn ấy và nhấn mạnh thêm giá trị, ý nghĩa của tác phẩm.

Vài Sử Liệu Về Trận Cần Giuộc Ngày 16/12/1861

Trong cuốn Quấc âm thi tập (rút trong các xấp văn chương) (Sài Gòn, Impr. Commercial Marcelles, 1907), trang 36, Paulus Của Đốc phủ sứ có chép bài Văn tế vong hồn mộ nghĩa (một tên gọi khác của bài Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc), mở đầu người biên soạn có viết một đoạn bằng chữ quốc ngữ về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ấy như sau:

“Tự Đức thập tứ niên thập nhứt ngoạt thập ngũ nhựt chi dạ, Thống quản (Bùi Quang mỗ) suất tương nghĩa binh tựu Cần Giuộc công phá dương huyện, thiêu đắc dương di đạo đường, đạo quán, thích trúng dương quan tri huyện, tịnh Chà Và Maní đẳng. Nghĩa binh trận vong, cai thập ngũ danh, kỳ tú tài Nguyễn Đình Chiểu phụ tế văn”.

(Có thể khôi phục văn bản chữ Hán như sau: 嗣德十四年十一月十五日之夜、統管 ﹝裴光某﹞率將義兵就芹湥功破洋縣、燒得洋夷道堂、道館、刺中洋官知縣、並嗏吧麻呢等。義兵陣忘、該十五名、倚秀才阮庭沼付 際文)

Dịch: Đêm ngày 15 tháng 11 năm Tự Đức thứ 14 (tức đêm 16/12/1861) Thống quản (Bùi Quang mỗ (1)) chỉ huy nghĩa binh đến Cần Giuộc công phá sở chỉ huy huyện của Tây, đốt cháy nhà thờ, nhà giảng của chúng, đâm trúng tri huyện người Pháp, cùng một số lính Chà Và, Ma Ní. Nghĩa binh chết trận cả thảy 15 người. Nhờ Tú tài Nguyễn Đình Chiểu làm bài văn phụ tế.

Nhắc lại một số sự kiện lịch sử để thấy rõ hoàn cảnh ra đời của bài văn tế hơn:

Sau khi không thắng được quân triều đình Huế ở mặt trận Đà Nẵng, quân Pháp chuyển hướng tấn công Sài Gòn. Ngày 10/2, đại bác Pháp bắn vào Vũng Tàu, ngày 11/2, đoàn tàu chiến Pháp vào sông Cần Giờ.

Ngày 16/2/1859, Pháp tấn công thành Gia Định, một ngày sau chiếm được thành. Hộ đốc thành Gia Định là Võ Duy Ninh tự sát trên đường rút lui. Quân Việt rút về đồn Cây Mai và đồn Kiểng Phước (Chợ Lớn).

Triều đình cử Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương vào chỉ huy quân đội. Ông tập trung quân xây dựng Đại đồn Chí Hòa bao vây quân Pháp.


Văn tế vong hồn mộ nghĩa (tức Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc) trong Quấc âm thi tập của Paulus Của.

Tháng 2/1861, quân Pháp chiếm đồn Kiểng Phước và đồn Cây Mai. Từ đồn Cây Mai chúng hạ Đại đồn Chí Hòa. Nguyễn Tri Phương bị thương phải về Phan Rí điều trị, em trai ông là Nguyễn Duy, giữ chức Tán lý Định Biên tử trận. Quan quân rút về Biên Hòa. Có lẽ từ thời điểm Đại đồn thất thủ cho đến khi Nguyễn Đình Chiểu viết Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc (12/1861) là 10 tháng, người dân mong mỏi quân đội triều đình vào Nam đánh Pháp nhưng không thấy:

Tiếng phong hạc (2) phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;
Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm (3), ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

Trong tháng 3/1861, Đô đốc Léonard Charner đã lập 4 toán lính mã tà.

Tháng 4/1861, Charner quyết định tấn công Định Tường. Ngày 14/4, chiếm được thành Mỹ Tho. Đô đốc Nguyễn Công Nhàn bỏ thành rút lui. Chiếm được thành Mỹ Tho, quân Pháp đánh chiếm tiếp cả một vùng trù phú giữa sông Vàm Cỏ và sông Tiền: Chợ Gạo, Rạch Gầm, Cai Lậy, Cái Bè (vùng Mỹ Tho); Tân An, Thuộc Nhiêu, Gia Thạnh, Gò Công (vùng Tân An); Cần Giuộc, Rạch Kiến (vùng Phước Lộc (4)).

Phong trào chống Pháp của sĩ dân nổ ra khắp nơi, mạnh nhất ở Gò Công – quê hương ngoại thích của vua Tự Đức đang bị Pháp chiếm đóng. Trương Định và Đỗ Trình Thoại mộ nghĩa quân ở Gò Công. Trận đánh đáng chú ý nhất là trận ngày 22/6/1861 ở Gò Công do Đỗ Trình Thoại chỉ huy. Với 600 nghĩa quân, Đỗ Trình Thoại vây trung úy Paulin Vial, Trưởng đồn kiêm Giám đốc Bổn xứ sự vụ Gò Công đang đóng quân trong một cái đình. Vial bị đâm hai mũi giáo và bị hỏa hổ đốt cháy mù một mắt. Đỗ Trình Thoại trúng đạn hy sinh trong trận chiến.

Tháng 11/1861, Phó Đô đốc Bonard đưa thêm quân tiếp viện đến thay thế Đô đốc Charner. Bonard muốn đánh Biên Hòa, Bà Rịa để làm chủ miền Đông Nam kỳ và chặn đường tiếp viện của quân triều đình đối với ba tỉnh miền Tây Nam kỳ. Ông cho rút bớt quân ở các đồn bót để tấn công Biên Hòa. Quân Việt thám thính biết được kế hoạch đó, một mặt củng cố lực lượng quân đội triều đình ở Biên Hòa, mặt khác nghĩa quân tăng cường hoạt động trên khắp các mặt trận.

Ngày 10/12/1861, Nguyễn Trung Trực chỉ huy trận tấn công tàu Espérance (Hy vọng) đậu ở vàm Nhựt Tảo, giết được nhiều quân địch và đốt cháy tàu.

Ghi chép chi tiết về cục diện cuộc chiến ở khu vực Gia Định, Tân An, Gò Công trong đó có trận Cần Giuộc, Alfred Schreiner (1852-1911) có viết trong quyển Abrégé de l’histoire d’Annam (Tóm lược lịch sử An Nam, Chez d’Auteur/ Tác giả tự xuất bản, Saigon, 1906) như sau:

“Cuộc đánh úp liều lĩnh của nghĩa binh Việt (tức là vụ Nguyễn Trung Trực đốt tàu Espérance tại sông Nhựt Tảo trưa ngày 10/12/1861) dường như là triệu chứng cho cuộc tổng tấn công các đồn bót Pháp. Các đồn này được lệnh tích cực giữ thế thủ, trong khi Bonard đã rút bớt quân lính để tập trung lực lượng lo đánh chiếm Biên Hòa.


Tượng nghĩa dân Cần Giuộc ở thị trấn Cần Giuộc (Long An)

“Lần này công tác của nghĩa binh Việt không phải rời rạc: tất cả dường như đã tính toán ăn rập với nhau, nhất tề đánh úp để lợi dụng sự rút bớt quân sĩ tại các đồn bót Pháp, từ ngày 14 đến 30 tháng 12/1861. Phần lớn các đồn bót đều bị đánh phá dữ dội, nhưng tất cả quân binh công hãm đều phải rút lui với sự tổn thất lớn lao. Tân An (do Avezard cai quản), Gò Công (do d’Arfeuille), Cần Giuộc (do Dumont) đều bị tấn công ngày 14/12; Gia Thạnh (do Robinet và Pineau) ngày 18; Cái Bè (do Botter và Gonon) ngày 20 và 25; Rạch Gầm (do Rolz de Couzalaz) ngày 29; Rạch Cà Hôn (do Thouroude) ngày 30/12” (Lê Ngọc Trụ dịch, dẫn theo Phủ Quốc vụ khanh, 1971, tr.116).

Trong trận này Bùi Quang Diệu chỉ huy 3 cánh quân tập kích đồn Tây dương ở chợ Trường Bình, Cần Giuộc. Nghĩa quân chiếm được đồn địch, đốt nhà dạy đạo và đâm bị thương Đồn trưởng Dumont, chém chết một số lính mã tà, ma ní. Giặc Pháp phải dùng đại bác từ tàu chiến đậu trên sông Cần Giuộc để chiếm lại đồn. Lưu ý là trong trận này Đồn trưởng quan hai Dumont không chết như một số tài liệu ghi lầm.

Báo Courrier de Sài Gòn (Thư tín Sài Gòn) 1866 cho biết thêm chi tiết về trận Cần Giuộc 14/12/1861:

“Về trận này, trong Quốc âm thi tập Paulus Của nói nghĩa binh chết 15 người, còn trong công văn Đỗ Quang(5) nói 27 người. Sau trận này Đỗ Quang dạy Bùi Quang Diệu điếu tế nghĩa dân bị tử trận, vì thế mà có bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Đồ Chiểu. Bài này chẳng những chỉ được chạy cùng miền Cần Giuộc mà còn bay khắp cả các tỉnh trong nước do bộ Lễ ở Huế truyền đi” (dẫn theo Nguyễn Bá Thế, 1957, tr.76).

Lúc bấy giờ Nguyễn Đình Chiểu đang ở chùa Tôn Thạnh (còn có tên là chùa Lan Nhã, dân gian thì gọi là chùa Lão Ngộ, do sư Viên Ngộ lập ra). Nghĩa quân trước khi công đồn tập trung ở chùa này. Sau trận đánh thi thể nghĩa binh cũng được đưa về chùa này để làm lễ mai táng. Đồ Chiểu được Quản Là nhờ viết văn tế và đọc tại đây.

Bài văn tế theo lệnh của bộ Lễ truyền đi khắp nơi, ra Kinh đô, đến được tay Mai Am, công chúa và Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, hoàng tử con vua Minh Mạng, cả hai đều là thi sĩ cung đình hàng đầu. Mai Am và Tùng Thiện vương xúc động mỗi người làm một bài thơ ghi lại cảm tưởng khi đọc bài văn tế của ông Đồ mù bên rạch Bến Nghé.

- Bồi hồi đọc mãi bản văn ai,
Phách cứng văn hùng cảm động thay.
Dân chúng cần vương lời ghét địch,
Nhà nho lâm trận tiếc không tài (…)

Độc điếu nghĩa dân tử trận văn, Mai Am, Lê Thước dịch

- (…) Tầm vông áo vải danh còn mãi,
Binh bại thân vong chuyện đã thường.
Canh cánh nghĩ thương lòng kẻ sĩ,
Chỉ còn ngọn bút báo ơn suông.

Độc Nguyễn Đình Chiểu điếu nghĩa dân tử trận quốc ngữ văn, Tùng Thiện Vương, Cao Tự Thanh dịch.

“Văn Tế Nghĩa Dân Chết Trận Cần Giuộc” – Một Trong “Tế Văn Tam Đại Tác” Của Nguyễn Đình Chiểu

Không trực tiếp đánh giặc bằng súng gươm được, Đồ Chiểu chọn lấy cây bút. Nhà thơ đã ghi lại cả một thời kỳ đau thương và vĩ đại của dân tộc với một thái độ yêu ghét rõ ràng, đúng đắn để cổ vũ cho cuộc kháng chiến và giữ lấy ngọn lửa yêu nước trong nhân dân.

Cuộc kháng chiến ở Nam bộ là một hiện thực rất mới mẻ. Đó là cuộc chiến tranh nhân dân: cuộc chiến tranh của những người nông dân tự mình đứng lên chống giặc.

Thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình rối mù trong những cuộc bàn cãi chiến, thủ, hòa. Triều đình vừa chống giặc lại vừa sợ giặc. Người nông dân chẳng có gì phải suy nghĩ đắn đo nhiều, đạo lý ông bà truyền lại mách bảo họ một sự lựa chọn giản đơn: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Thế là họ cầm vũ khí đứng lên, họ làm ra lịch sử theo ý muốn của mình: lịch sử của những người nông dân chống Pháp. Thời đại đã đưa người nông dân lên sân khấu chính trị trở thành nhân vật chính, người nghệ sĩ chỉ có nhiệm vụ nhìn nhận ra hiện thực mới này và phản ánh nó. Trong khi đại đa số các nhà thơ khác vẫn còn say sưa với loại nghệ thuật cao quý trong tháp ngà với những người quân tử kiểu cũ, thì người nghệ sĩ mù Nguyễn Đình Chiểu là người đầu tiên đã sáng suốt phát hiện ra hiện thực mới này và đưa nó vào thơ văn.

Nếu như trong cuộc cách mạng Pháp, họa sĩ Delacroix đã tạo ra hình tượng tuyệt đẹp về con người đấu tranh cho tự do trong bức họa nổi tiếng Thần Tự Do trên chiến lũy, tượng trưng cho tinh thần của cuộc cách mạng ấy, thì nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu cũng tạo ra hình tượng bất hủ về người nông dân đứng lên chống thực dân Pháp vì nền độc lập trong bài văn bi hùng Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc. Chưa bao giờ trong văn học nước nhà, người nông dân lại được thể hiện với sức mạnh và vẻ đẹp như thế. Họ không còn là một đám đông đói rách “yết can trảm mộc”, giơ sào làm cờ, chặt cây làm giáo trong các cuộc nổi dậy vì áo cơm của bản thân mình nữa, mà lần này họ xuất hiện với vẻ đẹp tinh thần của những con người vì nghĩa lớn: vì nền độc lập của dân tộc. Họ không chỉ đơn giản là nhân vật hành động, mà là nhân vật tư tưởng. Năm thế kỷ trước, Nguyễn Trãi đã khắc họa nên hình tượng Lê Lợi, người anh hùng cứu nước trong áng “thiên cổ hùng văn” Cáo bình Ngô. Đến bây giờ là Nguyễn Đình Chiểu. Tấm lòng đau đáu yêu nước lo đời là một, chỉ có một điều khác: ngày xưa là một vị thiên tử, còn bây giờ là những người nông dân:

Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;
Mùi tinh chiến vấy vá đã ba năm, ghét thói mạt như nhà nông ghét cỏ.
Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;
Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.
Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;
Hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó.

Khi ra trận, người nghĩa sĩ tự trang bị cho mình bằng những vật dụng quen thuộc hàng ngày: cái nùi rơm để hút thuốc, con dao phay để làm bếp. Những vật dụng như thế bỗng chốc trở thành vũ khí để chống chọi với “đạn nhỏ đạn to”, “tàu thiếc tàu đồng”. Cái gì đã tạo nên những phép thần kì ấy? Đó chính là sức mạnh của ý chí con người, của lòng yêu thiết tha quyền tự chủ của dân tộc mình.

Chấp nhận đối đầu với vũ khí tối tân, đó là sự lựa chọn tự giác của những người nông dân, một sự lựa chọn quả cảm. Chính tinh thần ấy đã tạo nên sức mạnh phi thường của họ. Nguyễn Đình Chiểu đã vẽ nên bức tranh công đồn sinh động và hào hùng:

Chi nhọc quan quản gióng trống kì, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;
Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to xô của xông vào, liều mình như chẳng có.
Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho Mã tà, Ma ní hồn kinh;
Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ.

Trong bức tranh ấy, tung hoành giữa chiến trường chỉ có người nông dân mộ nghĩa. Hình ảnh của họ in lồng lộng trên nền trời Tổ Quốc. Hình tượng người “dân ấp dân lân” bỏ mình vì nước cũng trở thành hình tượng bất hủ trong văn học Việt Nam.

Bài Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc còn thể hiện tư tưởng nhân đạo, thân dân, yêu hòa bình truyền thống của dân tộc Việt Nam. Trong tác phẩm này Nguyễn Đình Chiểu cho thấy nhân dân là nạn nhân đầu tiên của chiến tranh, trong đó ông đặc biệt chú ý đến phụ nữ: những người mẹ già mất con, vợ yếu mất chồng:

Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;
Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Nếu như Lục Vân Tiên được nhân dân ưa thích do tính chất bình dân – bình dân từ cách kể chuyện cho đến ngôn từ, thì Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc lại được truyền tụng do giọng văn bi hùng với ngôn ngữ tráng lệ, uyên bác, đầy điển cố của nó. Nói đến văn tế, người ta hay nhắc đến những áng văn nổi tiếng cổ kim: Ở Bắc có Văn khóc chị của Nguyễn Hữu Chỉnh, Văn tế Trương Quỳnh Như của Phạm Thái, Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du; trong Nam có Văn tế Võ Tánh và Ngô Tòng Châu của Đặng Đức Siêu, Văn tế tướng sĩ trận vong của Nguyễn Văn Thành… nhưng nếu nói đến những bài văn tế hay nhất thì phải nói đến 3 bài: Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc, Văn tế Trương Định, Văn tế sĩ dân trận vong Lục tỉnh. Ba bài văn tế ấy xứng đáng là 3 đại danh tác về văn tế – “Tế văn tam đại tác” của Nguyễn Đình Chiểu và ông xứng đáng là người viết văn tế hay nhất trong văn học cổ điển Việt Nam, đúng như Giáo sư Trần Văn Giàu khẳng định: “Ví như chỉ còn lưu lại mấy bài văn tế và hịch thôi, thì Đồ Chiểu cũng xứng đáng được suy tôn như một nhà văn cổ điển lớn” (Vì sao tôi thích đọc Nguyễn Đình Chiểu) (Viện Văn học, 1973, tr.169).

Đoàn Lê Giang
Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 32-33

Nguồn: Tạp chí Văn nghệ TP.HCM, ngày 23.7.2022

"Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc" - Áng văn bất hủ về người nông dân chống ngoại xâm (Đoàn Lê Giang) (hcmussh.edu.vn)

——————–
Chú thích
(1) Bùi Quang mỗ: Tức Bùi Quang Diệu hay Bùi Quang Là, tức là Đốc binh Là, người Pháp gọi là Quản Là. Cai tổng năm 1860, người chỉ huy trận Cần Giuộc 14/12/1861. Em út của Nguyễn Đình Chiểu là Nguyễn Đình Huân (1841-1863) theo Đốc binh Là đánh Pháp, tử trận ở Cần Giuộc năm 1863. Ngày 21/9/1866, Quản Là mang 1.200 quân ra hàng Pháp.
(2) Tiếng phong hạc: lấy điển từ “Văn phong thanh hạc lệ, giai dĩ vi vương sư dĩ chí” (Tấn thư, Tạ Huyền truyện) 聞風聲鶴唳,皆以為王師已至 (Nghe tiếng gió thổi, hạc kêu, đều ngỡ là quân nhà vua đến). Ý nói kể từ khi Đại đồn thất thủ (2/1861) đến nay (12/1861) đã hơn 10 tháng rồi, lúc nào nghe thấy tiếng gió tiếng vạc kêu là cứ ngỡ quân triều đình đến đánh Pháp, mà thực ra chẳng thấy.
(3) Mùi tinh chiên vấy vá đã 3 năm: Mùi dê chó tanh hôi (chỉ quân Pháp) ám ảnh nước ta giờ đã 3 năm là tính từ 1/9/1858 quân Pháp tấn công Đà Nẵng đến nay (12/1861) đã 3 năm rồi.
(4) Huyện Phước Lộc, tỉnh Gia Định đóng ở chợ Cần Giuộc.
(5) Đỗ Quang (1807-1866): quê Hải Dương, đậu Tiến sĩ 1832. Năm 1860, được triều đình cử vào Nam làm chức Thự Tuần phủ Gia Định. Đại đồn thất thủ, ông dẫn quân chạy về Biên Hòa, bị cách chức, nhưng vẫn được lưu dụng. Khi quân Pháp kéo lên đánh Biên Hòa 12/1861, ông bí mật xuống Gò Công kết hợp với Trương Định trấn giữ nơi hiểm yếu. Sau Hòa ước Giáp Tuất 1862, ông về Bắc, làm quan một thời gian thì bị bệnh mất.

Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Bá Thế (1957), Nguyễn Đình Chiểu (thân thế và thi văn) 1822-1888, Tủ sách “Những mảnh gương”, Tân Việt xuất bản.
2. Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa (1971), Sưu tập
bổ túc các bài báo về Nguyễn Đình Chiểu, Sài Gòn. Bài Lê Ngọc Trụ, “Một bài văn tế có tính cách sử liệu”, Đồng Nai văn tập số 7 năm 1966 .
3. Viện Văn học (1973), Nguyễn Đình Chiểu, tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, bài Trần Văn Giàu: “Vì sao tôi thích đọc Nguyễn Đình Chiểu”.



Tin tức khác

· ĐÊM THƠ NGUYÊN TIÊU BÍNH NGỌ 2026 TẠI XÃ TAM MỸ: 'TRƯỚC BIỂN LỚN: QUÊ HƯƠNG - TIẾNG THƠ, NHỊP SÔNG'
· NGÀY THƠ VIỆT NAM TẠI TP HỒ CHÍ MINH: 'TIẾNG GỌI ĐÔ THỊ MỚI'
· THÊM 30 DI SẢN HIỆN VẬT ĐƯỢC CÔNG NHẬN BẢO VẬT QUỐC GIA
· NHÀ VĂN, NHÀ THƠ MƯỜNG MÁN QUA ĐỜI Ở TUỔI 79
· NHÀ THƠ DUY NHẤT CỦA ĐỒNG BÀO CHÂU RO ĐÃ RA ĐI
· HỘI NGHỊ TỔNG KẾT HỘI NHÀ VĂN NĂM 2025: TINH GỌN BỘ MÁY, THẮT CHẶT KỶ CƯƠNG, KHÁT VỌNG ĐỔI MỚI
· CUỘC HÔN NHÂN VỪA LÃNG MẠN VỪA LẮM CHÔNG GAI CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG VÀ LÂM THỊ MỸ DẠ
· 50 TÁC PHẨM VĂN HỌC NGHỆ THUẬT ĐƯỢC VINH DANH
· 23 NĂM 'TÌM THẤY' NHÀ THƠ THÂM TÂM
· HAI NẠN NHÂN SỐNG SÓT TRONG VỤ THẢM SÁT Ở QUẢNG NAM NHẬN GIẢI THƯỞNG RHEE YEUNGHUITHỨ 13 Ở HÀN QUỐC
· NHÀ VĂN ĐỖ KIM CUÔNG - 'TRANG TRAI HOA HỒNG' HAY BI KỊCH CHIẾN TRANH
· ĐẢNG ỦY XÃ TAM MỸ TỔ CHỨC VÒNG CHUNG KHẢO HỘI THI KỂ CHUYỆN TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
· NHÂN CHỨNG VỤ KHÔNG TẶC 1978: 'TÔI ĐÃ BA LẦN CHỜ CHẾT"
· THƯ VIỆN KHU LƯU NIỆM BÍCH KHÊ: ĐIỂM SÁNG VĂN HÓA VỚI GẦN 4000 ĐẦU SÁCH, LAN TỎA TRI THỨC ĐẾN CỘNG ĐỒNG
· CUỘC ĐẤU TRÍ VÁCH MẶT TÊN GIÁN ĐIỆP ĐỘI LỐT NHÀ BÁO
· THƯ VIỆN NHỎ TRONG LÒNG NHÀ LƯU NIỆM BÍCH KHÊ
· 12 THÀNH PHẦN CHÍNH CỦA DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI THỨ 9 CỦA VIỆT NAM
· ĐỘI TƯỢNG BINH CÓ SỨC MẠNH KHỦNG KHIẾP NHẤT SỬ VIỆT KHIẾN PHƯƠNG BẮC KHIẾP VÍA
· 'THẦN ĐỒNG NGOẠI NGỮ' DANH TIẾNG NHẤT NHÌ LỊCH SỬ PHONG KIẾN
· CÓ PHẢI DO TÂM LINH MÀ MIẾU TRUNG LIỆT Ở GÒ ĐỐNG ĐA BỊ PHÁ DỠ?

Tin tức mới
♦ CẢM THỨC CHIẾN TRANH VÀ NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ MIỀN NAM 1954 - 1975 (03/03/2026)
♦ LẦN THEO DẤU CHÂN 'NHỮNG CON NGỰA THỒ VĂN CHƯƠNG' XỨ QUẢNG  (03/03/2026)
♦ TẢN MẠN VỀ PHẨM GIÁ THƠ CA - Tiệu luận ĐẶNG HUY GIANG (03/03/2026)
♦ ĐÊM THƠ NGUYÊN TIÊU BÍNH NGỌ 2026 TẠI XÃ TAM MỸ: 'TRƯỚC BIỂN LỚN: QUÊ HƯƠNG - TIẾNG THƠ, NHỊP SÔNG' (03/03/2026)
♦ NGÀY THƠ VIỆT NAM TẠI TP HỒ CHÍ MINH: 'TIẾNG GỌI ĐÔ THỊ MỚI' (03/03/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 1907231
Trong thang Trong tháng: 177704
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 83933
Truc tuyen Trực tuyến: 3

...

...

Designed by VietNetNam