TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
MỘT BÀI THƠ CỦA SỨ GIẢ ĐẠI VIỆT ĐƯỢC TRUNG QUỐC KHẮC VÀO BIA ĐÁ VẪN CÒN NGUYÊN VẸN
MỘT BÀI THƠ CỦA SỨ GIẢ ĐẠI VIỆT ĐƯỢC TRUNG QUỐC KHẮC VÀO BIA ĐÁ VẪN CÒN NGUYÊN VẸN
NGUỒN: Vanvn- Cập nhật ngày: 11 Tháng 3, 2026 lúc 08:29
Phó sứ nước An Nam Trần Thọ khi đi qua miếu Trọng Phu Tử đã kính cẩn vào bái yết. Sau đó, ông đề một bài thơ. Bài thơ này được khắc vào bia đá năm 1691, hiện vẫn còn nguyên vẹn (ảnh minh họa do AI tạo).
Trần Thọ, tên chữ là Nhuận Phủ, Bồi tụng, tước Phương Trì Hầu. Ông là nhà thơ, tác giả “Nhuận Phủ thi tập”, hiện còn 3 bài thơ trong “Toàn Việt thi lục” của Lê Quý Đôn. Ông sinh giờ Hợi ngày 6 tháng 10 năm Kỷ Mão (1639), mất giờ Dần ngày 6 tháng 8 năm Canh Thìn (1700).
Ông là con Dụ Phái Hầu, Hàn Lâm viện Thừa chỉ Trần Phúc, là cha của Tiến sĩ – Tham tụng Thượng thư, Diệu Quân Công, Thượng Trụ quốc Trần Cảnh, nhà nông học đầu tiên của Việt Nam, là ông nội của Tiến sĩ – Phó đô Ngự sử, Sách Huân Bá Trần Tiến (sau khi mất được truy phong Thượng thư – Từ thời Lê, Phạm Đình Hổ đã ghi Trần Tiến là Thượng thư). Trần Tiến cũng là người sáng lập thể ký tự thuật trong văn xuôi trung đại Việt Nam từ năm 1764, tác giả “Niên phả lục”, “Đăng Khoa lục sưu giảng”… Trần Thọ là cụ nội của Trần Quý – Trợ giáo Thái tử nhà Lê (sách in ghi theo chức là Trần Trợ), tác giả “Tục biên Công dư tiệp kí ”… Các tác phẩm này, đến nay vẫn được tái bản.
Khi vua Lê cử làm Phó sứ đi Trung Quốc, Trần Thọ là Tả Thị lang bộ Hộ (Thứ trưởng thứ nhất bộ Hộ, phụ trách về đất đai – lãnh thổ, lãnh hải). Nhiệm vụ của ông là đòi lại đất 4 châu: Vị Xuyên, Bảo Lạc, Quỳnh Nhai, Thủy Vĩ ở biên giới phía Bắc, bị nhà Thanh lấn chiếm, trong đó Vị Xuyên còn tên đến ngày nay.
Trên đường về, ngày rằm tháng 7 nhuận, năm Tân Mùi (1691), đoàn sứ bộ qua tỉnh Sơn Đông, ghé thăm đền/miếu Trọng Phu Tử. Trần Thọ đề thơ, được quan sở tại cho khắc vào bia đá.
Đến nay đã 355 năm ( 2026 – 1691), bài thơ trên bia vẫn còn nguyên vẹn. Bài thơ như sau:
Phó sứ nước An Nam Trần Thọ, phụng mệnh đi triều cống, khi điqua miếu Trọng Phu Tử, đã vào miếu bái yết và kính cẩn đề một bài thơ:
谒仲夫子庙
Viếng miếu Trọng Phu Tử
得天賦予性剛強,
袨杏初曾遊聖墻.
六藝詩書精旨奧,
四科政事好才長.
巍巍廟貌容儀肅,
歷歷春秋黍稷香.
介使南來思景仰,
河山帶礪久名芳.
Dịch Hán Việt:
Đắc thiên phú dữ tính cương cường,
Huyễn hạnh sơ tằng du Thánh tường.
Lục nghệ thi thư tinh chỉ áo,
Tứ khoa chính sự hảo tài trường.
Uy uy miếu mạo dung nghi túc,
Lịch lịch Xuân Thu thử tắc hương.
Giới sứ Nam lai tư cảnh ngưỡng,
Hà sơn đái lệ cửu danh phương.
Dịch nghĩa:
Trời ban tính tình cương trực
Xuân về áo gấm đi viếng tường Thánh xưa.
Sáu môn thơ hoạ đều rất tinh thông
Bốn khoa chính sự tài năng vẹn toàn.
Miếu cao dáng mạo trang nghiêm
Hương thơm dạt dào quanh năm vào mùa xuân thu
Sứ giả phương Nam đến bái miếu với lòng kính trọng
Non sông bền vững, tiếng tăm lưu truyền.
Dịch thơ:
Cương trực trời ban tính dũng quan
Xuân về áo gấm viếng dung nhan
Họa, thơ sáu loại đều tinh giỏi
Chính sự bốn khoa lại vẹn toàn
Dáng mạo miếu cao lòng kính ngưỡng
Hương thơm ngát tỏa tiết thu sang
An Nam phó sứ vào chiêm bái
Bền vững non sông tiếng khải hoàn
Khang Hy năm Tân Mùi (1691), tiết thu vàng – tháng bảy nhuận, ngày rằm.
TRẦN NHUẬN MINH dịch
—————————
Bản gốc chữ Hán do Đặng Văn Lộc cung cấp (Báo Hải Phòng)
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.