• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Diễn đàn lý luận
 
NHÌN NHẬN NHANH PHÊ BÌNH THƠ VIỆT NAM HẬU ĐỔI MỚI (KỲ 2) - Tham luận của ĐỖ QUYÊN

NHÌN NHẬN NHANH PHÊ BÌNH THƠ VIỆT NAM HẬU ĐỔI MỚI (KỲ 2) - Tham luận của ĐỖ QUYÊN



Thứ Năm, 21 tháng 4, 2016

Nhìn nhận nhanh phê bình thơ Việt hậu Đổi mới (kỳ 2)

Đỗ Quyên

THAM LUẬN HỘI THẢO “THẾ HỆ NHÀ VĂN SAU 1975”

Đại học Văn hóa Hà Nội – 28/4/2016

 

II. MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC, PHÊ BÌNH THƠ

Trước khi vào nội dung chính – các loại danh sách để nhìn nhận nhanh phê bình thơ Việt – ta hãy cùng chia sẻ một số quan niệm về phê bình văn học, phê bình thơ trong giai đoạn đang diễn ra. Bởi ít nhiều chúng cũng tác động đến việc nâng lên hạ xuống khi hình thành danh sách.

• Lưỡi phê bình nhiều đường lắt léo. Có thế mới thành phê bình. (Lại là phê bình thơ!).

• Bất luận thế nào, phê bình trong thời hậu Đổi mới đã để sau lưng mình một “kỷ nguyên phê-bình-lưỡi-gỗ” xét trên mặt bằng thơ Việt, từ trung tâm đến ngoại vi, từ trong nước ra ngoài nước. Nó, thậm chí với vài khu vực văn học, đã đi đến sự chấm dứt dòng phê-bình-lưỡi-gỗ vô thức và tập thể (ở miền Bắc trước 1975 và Việt Nam sau 1975), bè phái (ở miền Nam trước 1975 và hải ngoại).

• Thân thể phê bình mẫu mực được mô tả như sau: bên trên bài phê bình có thể là cái lưỡi, phía trong cần là cái đầu, dưới cùng phải là con tim.

 

• Nếu như sáng tác hoàn toàn thuộc về nghệ thuật, về sự hay dở trong khi đi về phía chân lý, với điều kiện cần là tâm và tình; thì phê bình - đầu tiên và sau cùng - là khoa học, là cách nói về chân lý, với điều kiện cần là trí và tuệ. Nghệ thuật ư? Nàng thơ chỉ có thể nằm giữa bài phê bình, sau khoa học và trước khoa học.

• Không thể có sắc màu chung cho các lá cờ thơ

[11]. Không thể có một cột cờ phê bình cho mỗi lá cờ thơ.

• Rốt ráo và thật lòng, phê bình văn học gần như được/bị trong vòng đai của văn-hóa-phê-bình-và-tự-phê-bình mà dân tộc, quốc gia đó được/bị mang trên mình. Thành thử, lâu nay khó có nổi quan niệm chung về phê bình văn học cho mọi nền văn học. Hóa ra, phê bình văn học được xác quyết bởi… bản sắc dân tộc? Về mặt này, phê bình văn học như là một loại thơ ca!

• Một lối bình thơ Việt qua 22 điểm[12]:

1. Nhạc điệu uyển chuyển; 2. Tứ quyết định ý, nghĩa và thi ảnh; 3. Thiên về cảm tính, diễn tả; nhiều tình mà ít thực. 4. Hình tượng bóng bẩy, dụ dỗ; 5. Không chuộng tư tưởng, triết lý; 6. Ít biến động về thi pháp; chậm thay giọng điệu; hiếm bất ngờ; 7. Ngôn ngữ tinh tế, chiều chuộng tu từ, lơ là cú pháp; 8. Cá tính tác giả không nổi trội; 9. Hình thể khá ổn cố; cấu tứ không đa dạng; 10. Xa văn xuôi, văn nói; 11. Lục bát là thể loại gốc; 12. Nội dung nhân bản mạnh hơn nhân sinh; trọng lòng yêu nước, tình đồng bào, nghĩa gia đình; 13. Hướng ngoại hơn là hướng nội: nhẹ chất liệu đời sống cá nhân; nặng về thời đại, thế sự, thiên nhiên; 14. Chịu ảnh hưởng sâu nặng của thơ Đường luật; 15. Cái Tôi ít được là chủ thể; 16. Quan hệ thiên-địa-nhân lấn át quan hệ người-người; con người cần thiên nhiên hơn là ngược lại; 17. Sáng tác vượt xa phê bình, học thuật; 18. Giỏi về bình điểm; khá về nhận định; non về phê bình; chậm về nghiên cứu; yếu về lý luận; thiếu về triết học; 19. Ngâm và vịnh là các cách thưởng thức đồng sáng tạo; 20. Cuộc cách mạng đầu tiên là phong trào Thơ mới 1932-1945 thay đổi hầu hết bản sắc thơ Việt truyền thống, với ảnh hưởng từ thơ Pháp và từ đó tới nay từ nhiều nền thơ lớn trên thế giới; 21. Đóng góp hữu hiệu nhất với xã hội thời hiện đại là dòng thơ cách mạng và thơ chiến tranh (trong đó có phong trào thơ trường ca như là một trường phái); 22. v.v.

• Ngoài câu nói nửa báng bổ nửa chầm bập của J.W. Goethe đã được làm đề từ, chúng tôi thấy hứng thú, dù chưa hẳn đã đồng ý, với các phát biểu về phê bình văn học, phê bình thơ gần đây có trên báo mạng từ: Thụy Khuê, R. Barthes, Nhị Ca, Thiếu Sơn, Trương Tửu, nhóm tác giả Trịnh Bá Đĩnh chủ biên, Phạm Ngọc Thọ, Trương Đăng Dung, Đỗ Lai Thúy, Trần Thiện Khanh, Văn Giá, Phan Tuấn Anh, Trần Đình Sử, Phong Lê, Chu Văn Sơn, Ngô Hương Giang, Nguyên Ngọc, Cao Việt Dũng, Lã Nguyên, Đặng Tiến, Lưu Khánh Thơ, Inrasara, Nguyễn Hữu Sơn, Lê Hồ Quang, Trần Đăng Khoa, Đoàn Trọng Huy, Bùi Việt Phương, Viên An, Nguyễn Thanh Sơn, Trung Văn, Phạm Công Thiện, Nguyễn Thùy Giang, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Đức Mậu. (Mời xem Chú thích 13).[13]

III. MỘT VÀI DANH SÁCH NHÌN NHẬN NHANH PHÊ BÌNH THƠ VIỆT TRONG THỜI HẬU ĐỔI MỚI

Trong mấy năm qua chúng tôi thu thập tài liệu và xây dựng quan niệm cho một Bảng sơ lược tiếp nhận về nội dung và nghệ thuật (nhận diện, nhận dạng, nhận giọng, thể tài) và phân loại về hình thức và xuất xứ (thế hệ, khuynh hướng, quan điểm, địa lý, ảnh hưởng) các tác giả Việt Nam hiện đại và đương đại ở lĩnh vực phê bình thơ Việt và thế giới, với giới hạn về thời gian và thời cuộc là giai đoạn hậu Đổi mới (từ khoảng giữa thập niên 1990 đến nay).[14]

Trình dẫn trước nơi đây 5 danh sách sơ bộ về những tác giả Việt phê bình thơ ở trong và ngoài nước có tác phẩm, bài vở, diễn đàn với ảnh hưởng nhất định (tạo dư luận nơi độc giả, gây ấn tượng giữa văn giới, cộng đồng…). Có một số tên tuổi đã qua đời trước mốc hậu Đổi mới mà vẫn đồng hành cùng chúng ta.

Trừ DANH SÁCH SỐ 1, do hạn chế số trang tham luận, các danh sách khác chưa là đầy đủ tính đến thời điểm viết.

Trong một phân loại nào đó, rất tương đối, các tác giả được xếp theo thứ tự năm sinh; các tác giả chưa có thông tin chính xác để sau cùng và sau dấu “;”

Cũng xin phép Hội thảo[15] được vượt rào về mặt thế hệ: để đề tài giữ được độ liên tục và vẻ toàn thể, chúng tôi sẽ dẫn chứng mọi đối tượng liên hệ trong khi nhìn nhận nhanh phê bình thơ Việt hậu Đổi mới, chứ không chỉ các tác giả phê bình thơ xuất hiện và trưởng thành từ sau 1975 - những “chính chủ” đã làm ra và đang quyết định hiện tình.

III.1. Phân loại theo Thế hệ, Độ tuổi[16]

DANH SÁCH SỐ 1 (theo phân loại Thế hệ - Độ tuổi)

• 1910s:

Trương Tửu (sách), Trinh Đường (sách), Hoàng Như Mai (sách), v.v.

• 1920s:

Tế Hanh (sách), Lê Đình Kỵ (sách), Trần Ngọc Ninh (sách), Nguyễn Đình Thi (sách), Đỗ Đức Hiểu (sách), Phan Ngọc (sách), Võ Phiến (sách), Bùi Giáng (sách), Trần Dần (sách), Vũ Hạnh (sách), Khổng Ðức (sách), Huỳnh Sanh Thông (sách), Mai Thảo, Lê Đạt (sách), v.v.

• 1930s:

Hoàng Ngọc Hiến (sách), Đặng Phùng Quân (sách), Nguyễn Văn Hạnh (sách), Dương Tường (sách), Nguyên Sa (sách), Vân Long (sách), Trần Văn Tích, Phan Cự Đệ (sách), Đặng Anh Đào (sách), Văn Tâm (sách), Hồ Sĩ Vịnh (sách), Hà Minh Đức (sách), Thu Bồn (sách), Thi Vũ (sách), Đặng Hiển, Hoài Anh (sách), Thanh Tâm Tuyền (sách), Diễm Châu, Phong Lê (sách), Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Quốc Trụ, Viên Linh (sách), Nguyễn Huệ Chi (sách), Nguyễn Tiến Văn, Trần Văn Nam (sách), Đỗ Quý Toàn (sách), Nguyễn Đăng Thường, v.v.

• 1940s:

Đặng Tiến (sách), Vũ Quần Phương (sách), Trần Đình Sử (sách), Huỳnh Phan Anh (sách), Nguyễn Vũ Tiềm, Trúc Thông, Yến Nhi, Đào Trung Đạo, Gia Dũng (sách), Phạm Công Thiện (sách), Phạm Tiến Duật (sách), Nguyễn Nguyên Bảy (sách), Mai Quốc Liên (sách), Bằng Việt (sách), Luân Hoán, Ngô Thảo (sách), Mã Giang Lân (sách), Vương Trí Nhàn (sách), Du Tử Lê (sách), Hữu Thỉnh (sách), Nhật Tuấn, Võ Công Liêm (sách), Thi Hoàng, Hoàng Hưng (sách), Thái Doãn Hiểu (sách), Anh Ngọc, Kiều Văn (sách), Trần Ninh Hồ, Vương Trọng (sách), Nam Dao, Thụy Khuê (sách), Trần Nhuận Minh (sách), Vũ Duy Thông, Trần Trương, Ý Nhi (sách), Ngô Thế Oanh, Ngô Nguyên Nghiễm (sách), Vũ Văn Sỹ (sách), Hoàng Vũ Thuật (sách), Ngô Văn Tao, Lại Nguyên Ân (sách), Trần Hữu Thục/Trần Doãn Nho (sách), Lò Ngân Sủn (sách), Hồng Diệu (sách), Thái Kim Lan, Phạm Đình Ân, Thanh Thảo (sách), Triệu Từ Truyền (sách), Khế Iêm (sách), Trần Mạnh Hảo (sách), Nguyễn Ngọc Thiện (sách), Lê Quang Trang (sách), Dương Trọng Dật (sách), Nguyễn Trọng Tạo (sách), Dư Thị Hoàn, Anh Chi, Kim Chuông, Nguyễn Đức Mậu, Đỗ Lai Thúy (sách), Nguyễn Duy, Nguyễn Lệ Uyên, Vũ Từ Trang, Trịnh Thanh Sơn (sách), Vũ Nho (sách), Nguyễn Văn Lưu/Chu Giang (sách), Đặng Văn Sinh, Nguyễn Thụy Kha, Đỗ Hoàng, Trần Nghi Hoàng, Văn Chinh (sách), Bế Kiến Quốc, Mai Văn Hoan, Ngô Minh (sách), Bùi Công Thuấn, Nguyễn Hoàng Sơn (sách), Vũ Bình Lục, Lê Thành Nghị (sách), Đường Văn, Nguyễn Văn Long (sách), Nguyễn Mạnh Trinh; Hoàng Liên (sách), Lê Xuân Đức (sách), Lê Ngọc Trác, Hà Quảng, Trần Bảo Hưng, v.v.

• 1950s:

Lã Nguyên/La Khắc Hòa (sách), Khuất Bình Nguyên, Đoàn Trọng Huy (sách), Nguyễn Huy Thiệp (sách), Đỗ Ngọc Yên, Thái Kế Toại, Phan Trọng Thưởng (sách), Nguyên An (sách), Nguyễn Bá Thành (sách), Bùi Việt Thắng (sách), Phạm Quang Trung (sách), Đinh Quang Tốn (sách), Nguyễn Vy-Khanh (sách), Chân Phương, Nguyễn Văn Dân (sách), Đỗ Minh Tuấn (sách), Ngu Yên (sách), Phạm Quốc Ca (sách), Võ Chân Cửu, Triệu Lam Châu, Trần Hoàng Vy, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Tà Cúc, Ngô Vĩnh Bình (sách), Lý Hoài Thu (sách), Bùi Vĩnh Phúc (sách), Lê Vũ, Phan Tấn Hải, Lê Thị Huệ, Đào Duy Hiệp (sách), Nguyễn Việt Chiến (sách), Phùng Hoài Ngọc, Hữu Đạt (sách), Thế Dũng, Nguyễn Hồng Nhung, Đoàn Đức Phương (sách), Huỳnh Như Phương (sách), Trần Quang Quý, Thu Tứ (sách), Hồ Thế Hà (sách), Đỗ Kh., Tâm Nhiên, Đặng Huy Giang, Nguyễn Đức Tùng (sách), Đông La (sách), Mai Văn Phấn, Đỗ Quyên, Phạm Xuân Nguyên (sách), Thường Quán, Trần Ngọc Vương (sách), Hoàng Ngọc-Tuấn (sách), Trần Xuân An (sách), Nguyễn Sĩ Đại (sách), Nguyễn Hữu Quý, Inrasara (sách), Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Hưng Quốc (sách), Phạm Phú Phong, Nguyễn Hoàng Đức (sách), Trần Đăng Khoa (sách), Lưu Khánh Thơ (sách), Nguyễn Hòa (sách), Văn Giá (sách), Trần Hoài Anh (sách), Nguyễn Hữu Sơn (sách), Nguyễn Thanh Tú, Phạm Kỳ Đăng, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Đỗ, Nguyễn Ngọc Phú; Hiền Nguyễn, v.v.

• 1960s:

Dương Kiều Minh, Nguyễn Chí Hoan, Phạm Thị Hoài, Mai Bá Ấn (sách), Đỗ Trọng Khơi, Chu Văn Sơn (sách), Nguyễn Đăng Điệp (sách), Trần Vũ, Thận Nhiên, Hồng Thanh Quang, Ngô Tự Lập (sách), Chu Thị Thơm, Đinh Linh, Trần Đình Thu (sách), Trần Ngọc Tuấn, Nguyễn Huy Thông, Nguyễn Bình Phương, Phan Hoàng, Cao Thị Hồng (sách), Đặng Thân (sách), Đoàn Cầm Thi (sách), Phan Nhiên Hạo, Phạm Khải (sách), Lê Đình Nhất-Lang, v.v.

• 1970s:

Nguyễn Thanh Sơn (sách), Thiên Sơn, Nguyễn Thanh Tâm (sách), Nguyễn Hữu Hồng Minh, Trần Văn Toàn, Phùng Văn Khai, Nguyễn Thụy Anh (sách), Hoài Nam (sách), Lê Hồ Quang (sách), Khánh Phương (sách), Trần Vũ Long, Văn Bảy/Lý Đợi, Lê Thiếu Nhơn (sách), v.v.

• 1980s:

Cao Việt Dũng, Bùi Việt Phương, Đoàn Minh Tâm, Hoàng Đăng Khoa, Mai Anh Tuấn, Trần Thiện Khanh, Hoàng Thụy Anh, Đoàn Ánh Dương (sách), Ngô Hương Giang (sách), Nhã Thuyên, v.v.

Như thế, với dung sai cho phép, con số cập nhật 18/4/2016 đang là 246[17] người phê bình thơ ở độ tuổi trong 8 thập niên ít nhiều ghi ấn dấu tại thời hậu Đổi mới.

Nhiều nhất là 83 vị được sinh hạ trong kỷ nguyên hậu Thơ mới, thuộc vào thời kỳ Cách mạng mùa Thu, tức là thế hệ 4X.

Kỷ nguyên tiền Thơ mới còn gửi lại dư âm của mình qua ba “Con khủng long lãng mạn cuối cùng”: Giáo-sư-bách-khoa Trương Tửu - vị thợ cả đầu tiên truân chuyên xây nền tảng ngành khoa học nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam (đã xuôi tay vào năm chót của thiên niên kỷ trước); “Người yêu thơ nhất nước” Trinh Đường (cũng đã nằm xuống vào năm thứ hai ở thiên niên kỷ này); Giáo-sư-thi-ca Hoàng Như Mai (vừa ra đi hai năm nay).

Kỷ nguyên toàn cầu hóa 8X mới chỉ tạm gửi vào đội ngũ này 10 nhà phê bình; trẻ tuổi đời đã khá cứng cỏi.

Thế hệ xuất hiện và trưởng thành từ sau 1975 - đối tượng của Hội thảo[18] - ở độ tuổi 5X-6X. Coi lướt hai danh sách cả thảy 93 (70 + 23) người thơ ấy, thấy ngay đó chính là chủ nhân ông của khảo cứu này. Xin chúc mừng và cảm ơn!

III.2. Phân loại theo Phương pháp, Đối tượng, Thể tài, Ảnh hưởng

Bốn phân loại như thế, tất nhiên, mang nghĩa tương đối: nhiều đường lối phê bình có thể gặp nhau ở đôi ba đặc điểm, và nhiều tác giả có thể đặt chân vào hơn một đường lối phê bình.

Do hạn chế thời gian, ở một số mục của các danh sách còn thiếu sót và sẽ được hoàn thiện trong lần công bố sau…

DANH SÁCH SỐ 2 (theo phân loại Khuynh hướng - Phương pháp)

• Phê bình xã hội học:

Trương Tửu, Vũ Hạnh, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Thi Vũ, Phong Lê, Trần Mạnh Hảo, Khuất Bình Nguyên, Nguyên An, Đỗ Ngọc Yên, Bùi Công Thuấn, Nguyễn Thanh Tú, v.v.

• Phê bình phong cách học:

Trương Tửu, Hoàng Như Mai, Lê Đình Kỵ, Vũ Hạnh, Đỗ Đức Hiểu, Phan Ngọc, Bùi Giáng, Nguyễn Văn Hạnh, Văn Tâm, Lê Đạt, Vương Trí Nhàn, Phạm Tiến Duật, Thái Doãn Hiểu, Phạm Đình Ân, Đỗ Lai Thúy, Đoàn Trọng Huy, Phùng Hoài Ngọc, Bùi Vĩnh Phúc, Huỳnh Như Phương, Phạm Xuân Nguyên, Lưu Khánh Thơ, Mai Bá Ấn, Nguyễn Đăng Điệp, Đoàn Cầm Thi, Cao Thị Hồng, Nguyễn Thanh Sơn, Hoài Nam, Mai Anh Tuấn, Đoàn Ánh Dương, Nhã Thuyên, v.v.

• Phê bình thi pháp:

Đỗ Đức Hiểu, Phan Ngọc, Đặng Anh Đào, Đặng Tiến, Trần Văn Nam, Trần Đình Sử (“khởi xướng”[19]), Thụy Khuê, Vũ Văn Sỹ, Đỗ Lai Thúy, Đào Duy Hiệp, Huỳnh Như Phương, Hữu Đạt, Hồ Thế Hà, Nguyễn Hưng Quốc, Nguyễn Đăng Điệp, Chu Văn Sơn, Lê Hồ Quang, Nguyễn Thanh Tâm, v.v.

• Phê bình triết luận:

Trương Tửu, Nguyễn Đình Thi, Bùi Giáng, Vũ Hạnh, Hoàng Ngọc Hiến, Đặng Phùng Quân, Nguyên Sa, Lê Đạt, Trần Văn Nam, Phạm Công Thiện, Phạm Tiến Duật, Triệu Từ Truyền, Võ Công Liêm, Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Hoàng Đức, Ngô Tự Lập, Ngô Hương Giang, v.v.

• Phê bình ấn tượng:

Võ Phiến, Bùi Giáng, Mai Thảo, Dương Tường, Phạm Tiến Duật, Vương Trọng, Nguyễn Văn Lưu/Chu Giang, Trần Mạnh Hảo, Đỗ Hoàng, Văn Chinh, Nguyễn Huy Thiệp, Thế Dũng, Đỗ Kh., Đinh Quang Tốn, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Hoàng Đức, Trần Đăng Khoa, Văn Giá, Hoài Nam, v.v.

• Phê bình nghệ thuật văn bản:

Phan Ngọc, Đỗ Đức Hiểu, Vũ Hạnh, Văn Tâm, Trần Văn Nam, Đỗ Quý Toàn, Trần Đình Sử, Vũ Quần Phương, Mai Quốc Liên, Mã Giang Lân, Thái Doãn Hiểu, Kiều Văn, Thụy Khuê, Trần Mạnh Hảo, Đặng Văn Sinh, Đỗ Lai Thúy, Lã Nguyên, Đoàn Trọng Huy, Phạm Quang Trung, Lý Hoài Thu, Bùi Vĩnh Phúc, Nguyễn Vy-Khanh, Đào Duy Hiệp, Hữu Đạt, Trần Ngọc Vương, Nguyễn Hưng Quốc, Mai Bá Ấn, Chu Văn Sơn, Nguyễn Đăng Điệp, Đoàn Cầm Thi, Cao Thị Hồng, Phạm Khải, Lê Hồ Quang, Khánh Phương, Lê Thiếu Nhơn, Đoàn Minh Tâm, Trần Thiện Khanh, Nguyễn Thanh Tâm, Đoàn Ánh Dương, Nhã Thuyên, v.v.

• Phê bình văn bản học:

Viên Linh, Đặng Phùng Quân, Đào Trung Đạo, Lại Nguyên Ân, Phạm Đình Ân, Nguyễn Hữu Sơn, v.v.

• Phê bình ngữ học / ngôn ngữ:

Phan Ngọc, Đỗ Đức Hiểu, Đỗ Quý Toàn, Trần Đình Sử, Phạm Công Thiện, Đào Trung Đạo, Trần Hữu Thục, Đào Duy Hiệp, Hữu Đạt, Trần Ngọc Vương, Ngô Tự Lập, v.v.

• Phê bình cấu trúc:

Trần Ngọc Ninh, Đỗ Đức Hiểu, Trần Đình Sử, Mã Giang Lân, Thụy Khuê, Lã Nguyên, Hồ Thế Hà, Chu Văn Sơn, Ngô Hương Giang, v.v.

• Phê bình phân tâm học:

Trương Tửu, Đặng Tiến, Đỗ Lai Thúy, Triệu Từ Truyền, Nguyễn Hoàng Đức, v.v.

• Phê bình hiện sinh:

Nguyên Sa, Huỳnh Phan Anh, Trần Hoài Anh, v.v.

• Phê bình mĩ học tiếp nhận:

Vương Trí Nhàn, Thái Doãn Hiểu, Lã Nguyên, Đỗ Minh Tuấn, Trần Hoài Anh, Nguyễn Thanh Tâm, v.v.

• Phê bình hiện tượng luận:

Đặng Phùng Quân, Nguyên Sa, Ngô Hương Giang, v.v.

• Phê bình thông diễn học:

Trương Tửu, Đặng Phùng Quân, Đào Trung Đạo, Ngô Hương Giang, v.v.

• Phê bình ký hiệu học:

Lã Nguyên, Ngu Yên, v.v.

• Phê bình văn hóa học:

Trương Tửu, Trần Ngọc Ninh, Nguyễn Đình Thi, Vũ Hạnh, Lê Đạt, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Văn Hạnh, Hồ Sĩ Vịnh, Thi Vũ, Phan Ngọc, Phạm Công Thiện, Vương Trí Nhàn, Đỗ Lai Thúy, Phạm Quang Trung, Đỗ Minh Tuấn, Trần Ngọc Vương, Nguyễn Hòa, Nguyễn Hoàng Đức, Trần Văn Toàn, Cao Việt Dũng, Mai Anh Tuấn, Nhã Thuyên, v.v.

• Phê bình nhân học:

Trương Tửu, Đặng Phùng Quân, Thái Doãn Hiểu, Nguyễn Văn Lưu/Chu Giang, Đỗ Lai Thúy, Nguyễn Hoàng Đức, Nguyễn Thanh Tâm, Ngô Hương Giang, v.v.

• Phê bình so sánh:

Trần Đình Sử, Nguyễn Văn Lưu/Chu Giang, Ngu Yên, Đặng Huy Giang, Inrasara, Nguyễn Chí Hoan, Đặng Thân, Nguyễn Thanh Sơn, v.v.

• Phê bình phá cách / “hậu hiện đại”:

Nguyễn Đăng Thường, Đỗ Hoàng, Đỗ Kh., Đỗ Quyên, Inrasara, Khải Minh, Đinh Linh, Đặng Thân (“khởi xướng”), v.v.

• Phê bình khuynh hướng - trường phái - trào lưu:

Trương Tửu, Thanh Tâm Tuyền, Trần Đình Sử, Hoàng Hưng, Thụy Khuê, Lại Nguyên Ân, Khế Iêm, Đỗ Lai Thúy, Nguyễn Văn Dân, Lã Nguyên, Phạm Quang Trung, Võ Công Liêm, Bùi Công Thuấn, Ngu Yên, Nguyễn Việt Chiến, Chân Phương, Đỗ Quyên, Inrasara, Mai Bá Ấn, Nguyễn Đăng Điệp, Đoàn Cầm Thi, Ngô Tự Lập; Hiền Nguyễn, v.v.

DANH SÁCH SỐ 3 (theo phân loại Mục đích - Đối tượng)

• Phê bình kết hợp lý thuyết - thực hành:

Trương Tửu (Duy vật biện chứng); Nguyễn Văn Hạnh (Xã hội học, Văn hóa học); Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức (Xã hội học); Phan Ngọc (Phong cách học); Trần Đình Sử (Thi pháp học); Đỗ Lai Thúy (Phân tâm học, Phong cách học, Văn hoá học); Lại Nguyên Ân (Văn bản - Thực chứng); Chu Văn Sơn (Nghệ thuật văn bản); Ngô Tự Lập (Ngôn ngữ học); Trần Văn Nam, Thụy Khuê, Khế Iêm, Lã Nguyên, Nguyễn Hưng Quốc (Phương pháp luận), v.v.

• Phê bình thực hành:

Hoàng Như Mai, Đỗ Đức Hiểu, Đặng Anh Đào, Hoàng Ngọc Hiến, Văn Tâm, Đặng Tiến, Nguyễn Huệ Chi, Mai Quốc Liên, Lý Hoài Thu, Đặng Văn Sinh, Bùi Vĩnh Phúc, Lưu Khánh Thơ, Văn Giá, Trần Hoài Anh, Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Thanh Tú, Chu Văn Sơn, Mai Bá Ấn, Đoàn Cầm Thi, Hoàng Thụy Anh, Lê Hồ Quang, Khánh Phương, Đoàn Minh Tâm, Trần Thiện Khanh, Đoàn Ánh Dương, v.v.

• Phê bình học thuật / hàn lâm / lý thuyết:

Trương Tửu, Trần Đình Sử, Nguyễn Văn Long, Khế Iêm, Mã Giang Lân, Trần Hữu Thục, Nguyễn Ngọc Thiện, Lã Nguyên, Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Bá Thành, Nguyễn Văn Dân, Vũ Tuấn Anh, Vũ Văn Sỹ, Huỳnh Như Phương, Phạm Quốc Ca, Đào Duy Hiệp, Phạm Quang Trung, Hồ Thế Hà, Đoàn Đức Phương, Nguyễn Hữu Sơn, Ngô Tự Lập, Nguyễn Đăng Điệp, Cao Thị Hồng, Trần Văn Toàn, Nguyễn Thanh Tâm, Trần Thiện Khanh, Đoàn Ánh Dương, v.v.

• Phê bình nghệ sĩ:

Trinh Đường, Hoàng Như Mai, Tế Hanh, Lê Đình Kỵ, Nguyễn Đình Thi, Võ Phiến, Bùi Giáng, Lê Đạt, Mai Thảo, Dương Tường, Nguyên Sa, Vân Long, Thi Vũ, Thu Bồn, Thanh Tâm Tuyền, Đỗ Quý Toàn, Nguyễn Đăng Thường, Vũ Quần Phương, Phạm Công Thiện, Du Tử Lê, Vũ Bình Lục, Trúc Thông, Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Hoàng Hưng, Hữu Thỉnh, Thi Hoàng, Vương Trọng, Anh Ngọc, Trần Doãn Nho, Trần Nhuận Minh, Ý Nhi, Hoàng Vũ Thuật, Phạm Đình Ân, Thanh Thảo, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Trọng Tạo, Dư Thị Hoàn, Bế Kiến Quốc, Nguyễn Đức Mậu, Văn Chinh, Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Hoàng Sơn, Đỗ Hoàng, Nguyễn Huy Thiệp, Chân Phương, Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Việt Chiến, Ngu Yên, Thế Dũng, Nguyễn Đức Tùng, Đông La, Đặng Huy Giang, Mai Văn Phấn, Nguyễn Hữu Quý, Thường Quán, Nguyễn Quang Thiều, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Hoàng Đức, Phạm Kỳ Đăng, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Đỗ, Dương Kiều Minh, Văn Giá, Chu Thị Thơm, Nguyễn Chí Hoan, Trần Vũ, Thận Nhiên, Đinh Linh, Đặng Thân, Phan Hoàng, Thiên Sơn, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lê Thiếu Nhơn, Bùi Việt Phương, v.v.

• Phê bình báo chí - truyền thông:

Trinh Đường, Tế Hanh, Mai Thảo, Dương Tường, Nguyên Sa, Đặng Anh Đào, Viên Linh, Vũ Quần Phương, Hoàng Hưng, Du Tử Lê, Bằng Việt, Nguyễn Vũ Tiềm, Trần Ninh Hồ, Vũ Duy Thông, Hồng Diệu, Anh Ngọc, Kiều Văn, Thái Doãn Hiểu, Thụy Khuê, Ý Nhi, Hoàng Vũ Thuật, Thanh Thảo, Dương Trọng Dật, Phạm Đình Ân, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Lệ Uyên, Lê Quang Trang, Vũ Nho, Nguyễn Văn Lưu/Chu Giang, Nguyễn Mạnh Trinh, Nguyễn Thụy Kha, Bế Kiến Quốc, Lê Thành Nghị, Ngô Minh, Lê Ngọc Trác, Hà Quảng, Trần Bảo Hưng, Nguyễn Hoàng Sơn, Khuất Bình Nguyên, Đinh Quang Tốn, Huỳnh Như Phương, Phạm Quang Trung, Chân Phương, Nguyễn Việt Chiến, Phan Tấn Hải, Đặng Huy Giang, Trần Quang Quý, Mai Văn Phấn, Phạm Xuân Nguyên, Trần Xuân An, Nguyễn Sĩ Đại, Trần Hòa Bình, Bùi Việt Thắng, Nguyễn Quang Thiều, Hoàng Ngọc-Tuấn, Phạm Phú Phong, Văn Giá, Nguyễn Ngọc Phú, Trần Hoài Anh, Nguyễn Thanh Tú, Dương Kiều Minh, Chu Thị Thơm, Nguyễn Chí Hoan, Nguyễn Thanh Sơn, Thiên Sơn, Phạm Khải, Văn Bảy/Lý Đợi, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Phùng Văn Khai, Hoài Nam, Khánh Phương, Lê Thiếu Nhơn, Hoàng Đăng Khoa, Đoàn Minh Tâm, Bùi Việt Phương, Hoàng Thụy Anh; Hiền Nguyễn, v.v.

• Phê bình chân dung:

Lê Đình Kỵ, Bùi Giáng, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Đặng Tiến, Phong Lê, Thi Vũ, Hoài Anh, Trần Văn Nam, Vũ Quần Phương, Vân Long, Nguyễn Vũ Tiềm, Vương Trí Nhàn, Anh Chi, Thái Doãn Hiểu, Anh Ngọc, Ý Nhi, Thụy Khuê, Hoàng Vũ Thuật, Hồng Diệu, Phạm Đình Ân, Nguyễn Lệ Uyên, Vũ Nho, Nguyễn Mạnh Trinh, Vũ Từ Trang, Trần Bảo Hưng, Nguyên An, Khuất Bình Nguyên, Đỗ Ngọc Yên, Đoàn Trọng Huy, Bùi Việt Thắng, Nguyễn Việt Chiến, Đặng Huy Giang, Tâm Nhiên, Mai Văn Phấn, Nguyễn Hữu Quý, Phạm Xuân Nguyên, Trần Đăng Khoa, Lưu Khánh Thơ, Văn Giá, Nguyễn Hữu Sơn, Mai Bá Ấn, Chu Văn Sơn, Trần Ngọc Tuấn, Thiên Sơn, Phan Hoàng, Phạm Khải, Hoài Nam, Khánh Phương, Đoàn Minh Tâm, Hoàng Thụy Anh, Lê Hồ Quang, Lê Thiếu Nhơn, v.v.

• Phê bình bình điểm:

Nguyễn Đình Thi, Bùi Giáng, Võ Phiến, Văn Tâm, Du Tử Lê, Hữu Thỉnh, Thái Doãn Hiểu, Thụy Khuê, Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Đức Tùng, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Hưng Quốc, Inrasara, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Chí Hoan, Phạm Khải, v.v.

• Phê bình giáo khoa / chuẩn mực:

Nguyễn Văn Hạnh, Trần Văn Tích, Hà Minh Đức, Văn Tâm, Vũ Quần Phương, Vũ Nho, Đoàn Trọng Huy, Nguyễn Vy-Khanh, Bùi Việt Thắng, Mai Văn Hoan, Đường Văn, v.v.

• Phê bình tài tử:

Bùi Giáng, Lê Đạt, Phạm Công Thiện, Thái Doãn Hiểu, Nguyễn Nguyên Bảy, Trần Nghi Hoàng, Nguyễn Huy Thiệp, Thu Tứ, Ngu Yên, Lê Vũ, Nguyễn Anh Tuấn, Đỗ Kh., Nguyễn Hoàng Đức, Đặng Thân, v.v.

• Phê bình tự phát:

Bùi Giáng, Trần Dần, Nguyễn Quốc Trụ, Nguyễn Đăng Thường, Ngô Văn Tao, Nhật Tuấn, Nguyễn Nguyên Bảy, Đỗ Hoàng, Võ Công Liêm, Võ Chân Cửu, Nguyễn Hồng Nhung, v.v.


[11] Toàn cầu hóa, bản sắc của nhà thơ mang tính thời đại (Ngô Hương Giang phỏng vấn; phần Đỗ Quyên, nhavantphcm.com.vn 29/2/2012, Văn Nghệ Trẻ số 9 - 26/2/2012).

[12] Như trên.

[13] Một số phát biểu đáng chú ý về phê bình văn học, phê bình thơ gần đây xuất hiện trên các trang mạng:

• Thụy Khuê:

“Triết gia đầu tiên để lại hệ thống suy tưởng làm nền cho sự phân tích và phê bình văn học là Aristote với tác phẩm Thi Học (Poétique). Sau Aristote, phê bình văn học xuyên nhiều thế kỷ trong tình trạng gần như tĩnh lặng, với những cá nhân phê bình tài năng, nhưng không làm xoay trở tình thế và đưa ra những phương pháp làm thay đổi cục diện toàn thể.”;

“Trong thế kỷ XX, nhà phê bình không còn bị giới hạn trong sự khen chê giáo khoa, mà có thể cách tân và phát triển nền phê bình như một nền văn chương thứ nhì, song song với sáng tác. Curtuis xác định: phê bình là ‘văn chương của văn chương’. Phê bình trở thành một thứ sáng tác ‘có đối tượng là sáng tác’. [...] Phê bình từ bỏ lối viết chủ quan, giáo điều, tự cho mình cái quyền sinh sát trên một tác phẩm, để có thể vận hành song song với sáng tác, như một nguồn sáng tạo thứ nhì, xuất phát từ văn bản. Nếu sáng tạo khởi đi từ cuộc đời để tiến tới văn bản thì phê bình khởi đi từ tác phẩm để đến với cuộc đời: hai hành trình ngược chiều, nhưng song song và gặp gỡ, và đó là một phép lạ chỉ có thể xẩy ra trong văn chương nghệ thuật.” (Phê bình văn học thế kỷ XX: Chương 2 - Sơ lược tiến trình phê bình trong thế kỷ XX, diendantheky.net 16/4/2016).

• R. Barthes: “Phê bình là diễn ngôn về một diễn ngôn. Đó là ngôn ngữ thứ sinh hoặc siêu ngôn ngữ, nó hành nghề trên ngôn ngữ nguyên sinh, hay ngôn ngữ đối tượng.” (phebinhvanhoc.com.vn).

• Nhị Ca: “Từ trong nguồn gốc sâu xa của nó, sáng tác và phê bình chỉ là hai mặt nhất trí của một nhu cầu tinh thần. Sáng tác là hành động; phê bình là nhận thức và lương tri của các hành động đó.” (x. Vương Trí Nhàn; Nhị Ca và một triết lý sống hợp lý, vuongdangbi.blogspot.ca).

• Thiếu Sơn:

“Người phê bình theo ông là ‘kẻ đọc giùm cho người khác… chỉ cho người ta thấy cái nghĩa lý của câu chuyện, chỗ dụng ý của tác giả, cái nghệ thuật của người làm và các văn thể của cuốn sách”;

“Với Phê bình và cảo luận, ông [Thiếu Sơn] được xem là nhà phê bình đầu tiên của văn học Việt Nam hiện đại.” (x. Nguyễn Ngọc Thiện; Lý luận phê bình và đời sống văn chương, Nxb Hội Nhà Văn, 2010; phebinhvanhoc.com.vn).

• Trương Tửu: “Tôi có lý thuyết 5 đúng là thế: Đúng việc, việc gì nói việc ấy; Đúng sự phát triển của việc ấy, nó đang phát triển một bước mà anh đưa nó nhảy lên ba bốn bước là không đúng; Đúng lúc, không phải thế nào cũng được; Đúng lý, hợp tình hợp lí; Đúng mức, cái thứ năm này mới là quan trọng, không đúng mức là vứt đi. Ông Lênin có một câu quan trọng - chân lý mà anh để thái quá là phản chân lý. Người Việt Nam nói một cách hay hơn - hết khôn dồn ra dại. Cái gì thái quá là chết. Thuyết của Lão Tử là không đi quá một bước, không lùi quá một bước. Thuyết của Khổng Tử là trung dung, cũng là đứng giữa. Thuyết của Phật là trung đạo, cũng là đứng giữa. Theo Kinh dịch, chính mà không trung là nguy hiểm, chính mà không cân là nguy hiểm.” (Trương Tửu tự bạch; Tôn Thảo Miên và Hà Công Tài ghi, Tạp chí Văn Hóa Nghệ An số 257-25/11/2013, vanhoanghean.com.vn 22-27-28/12/2013).

• Trịnh Bá Đĩnh chủ biên, Đinh Thị Minh Hằng, Cao Kim Lan, Lê Thị Dương, Trần Thiện Khanh:

“Thế nhưng tại sao lại là ‘Lịch sử lí luận, phê bình’? Sao không phải là ‘Lịch sử lí luận’/ ‘Lịch sử phê bình’ khi lí luận và phê bình có sự khác nhau? Lí luận là những quan niệm về bản chất, vai trò, các thành phần… của văn học; phê bình là nêu lên những tiêu chuẩn giá trị, thực hành những cách đánh giá về thi pháp, ý nghĩa xã hội và thẩm mĩ đối với các hiện tượng văn học.”;

“Thế nhưng, bộ môn lí luận, phê bình chưa thật phát triển, nhất là lí luận văn học. Hầu hết các nhà lí luận của chúng ta mới dừng ở mức cố gắng ‘làm sáng tỏ’ một lí thuyết văn nghệ nào đó đã có trên thế giới, hoặc vận dụng nó vào phân tích, đánh giá các hiện tượng văn học trong nước. Chưa có ai đặt vấn đề hay có thể tạo một lí thuyết văn học riêng. Xưa như thế mà nay cũng vậy. Lí luận vẫn chủ yếu phục vụ cho công việc phê bình. [...] Trước một thực tế kém phân hóa như vậy, chúng tôi cho rằng viết gộp lịch sử lí luận với phê bình là cách làm thích hợp.” (Lịch sử lí luận phê bình văn học Việt Nam, Nxb Khoa Học Xã Hội, 2013).

• Phạm Ngọc Thọ: “Nhà phê bình phải là một người độc lập, không theo một chủ nghĩa nào [...] và nhất là không nên là một nhà phê bình ‘nhà nghề’ cho một tờ báo hay tạp chí nào cả. [...] Một điều kiện nữa rất cần, không kém gì điều kiện kể trên là nhà phê bình văn học phải là kẻ học thức rộng [...] có lòng ham tìm tòi để hiểu biết cho thấu triệt. Nhà phê bình lại phải tránh tình cảm đừng để cho nó sai khiến cán viết ngay thẳng của mình. Những tình cảm đó do ở tình bạn kết giao mà có. Nó rất hại cho sự độc lập của phê bình.” (Phụ nữ tân văn số 241 - 10/5/1934; x. Lâm Phong; Tính chuyên nghiệp và vấn đề chuyên nghiệp hóa tại các tòa soạn văn nghệ, Văn Nghệ Trẻ, phebinhvanhoc.com.vn 12/08/2013).

• Trương Đăng Dung:

“Cái giới hạn lớn nhất mà phê bình văn học luôn luôn phải đối diện lại chính là văn bản văn học, đối tượng của nó. Nếu nói khoa học văn học thực hiện những thao tác vừa cụ thể vừa trừu tượng thì phê bình văn học có nhiệm vụ thực hiện những thao tác cụ thể đó. Phê bình văn học hướng đến việc nghiên cứu và đánh giá văn bản mà thực chất là muốn xác lập giá trị văn học của văn bản một cách cụ thể. [...] Nghĩa là cơ sở của phê bình văn học là sự đối thoại với các văn bản văn học thông qua hoạt động đọc và hiểu chúng.”;

“Các nhà phê bình văn học đích thực không phải là những nhà quảng cáo và càng không phải là những công chức thừa hành nhiệm vụ giám sát các tác phẩm văn học một cách máy móc, tôi chưa dám nói là vụ lợi. Họ phải là những nhà khoa học có trái tim nghệ sĩ, giàu tâm huyết. Một xã hội có văn hóa và dân chủ là một xã hội biết nghe nhiều ý kiến khác nhau về mọi vấn đề, xã hội đó không thể chấp nhận những nhà phê bình văn học kém cỏi về học vấn và trí trá về nhân cách. (Những giới hạn của phê bình văn học, Tạp chí Nghiên Cứu Văn Học 7/2004, phebinhvanhoc.com.vn 16/4/2013).

• Đỗ Lai Thúy:

“Phê bình văn học còn chưa là một thể loại theo nghĩa đen của từ này. Nó không có gì giống kịch hoặc tiểu thuyết, hay nói đúng hơn, nó đối lập với các thể loại khác và là tiêu chuẩn nhận thức thẩm mỹ và đánh giá của các thể loại đó. Chính vì thế mà không có một thể loại nào vừa ít rõ ràng, vừa nhiều sai lầm và hay phải chịu những biến đổi sâu sắc hơn nó” (x. Bùi Việt Phương; Viết ngắn về phê bình văn học, vanhocquenha.vn).

“Phê bình theo nghĩa rộng thường chỉ biết đến tác phẩm. Một thứ tác phẩm không có liên lạc gì đến tác giả và người đọc. Và người phê bình văn học đứng ngoài hệ thống văn học (tác giả-tác phẩm-người đọc) này. Ở Việt Nam hiện nay, phê bình văn học nói chung thường chỉ được hiểu như là phê bình báo chí (….), còn phê bình học thuật thì được hiểu như là nghiên cứu, một bộ môn của khoa học văn học. (Phê bình văn học là gì?, giaitri.vnexpress.net 25/12/2003).

• Trần Thiện Khanh: “Nội dung của phê bình chuẩn hóa là hệ tư tưởng; của phê bình phản tư, hàn lâm là tri thức khoa học; của phê bình truyền thông là thông tin, sự kiện.” (Ba kiểu phê bình văn học hiện nay, hay ba cơ chế phê bình văn học Việt Nam đương đại, nhavantphcm.com.vn 1/6/2013).

• Văn Giá: “[...] chúng ta đang có một nền phê bình văn học từ chỗ mang tính tập trung chuyển mạnh mẽ sang nền phê bình mang tính phân hóa cao. Phân hóa trong đội ngũ: với nhiều lứa tuổi khác nhau, xuất phát điểm khác nhau, quan niệm về văn chương khác nhau, thị hiếu thẩm mỹ cũng đa dạng khác nhau. Phân hóa trong phương pháp phê bình [...]. Phân hóa trong lối viết và phong cách. Điều này, khác xa với thời những năm chống Pháp và Mỹ. [...] Nhưng điểm yếu của nó là không thúc đẩy thành những trào lưu/ trường phái/ khuynh hướng mạnh mẽ và có dấu ấn. (..) Một nền phê bình văn học mạnh, phải là một nền phê bình có những trường phái phê bình được quy tụ bởi ý chí học thuật chứ không phải gì khác. Ở Việt Nam chúng ta chưa khi nào có được những trường phái hiểu theo nghĩa thỏa đáng nhất của danh xưng này. (Mấy đặc điểm phê bình văn học hiện thời - Tham luận Hội nghị Lý luận phê bình văn học lần III, Hội Nhà văn Việt Nam, Tam Đảo 2013, phebinhvanhoc.com.vn 1/6/2013).

• Phan Tuấn Anh:

“[...] về mặt chủ quan, vấn đề đặt ra đối với phê bình văn học nước nhà là những cuộc đối thoại, tranh luận, trao đổi nhằm đi đến sự thống nhất về những vấn đề cơ bản của bộ môn phê bình văn học. Nhưng về mặt khách quan, bởi phê bình văn học là một bộ môn luôn vận động, và đặc trưng đối tượng khảo sát của nó cũng thường xuyên biến thiên, nên sẽ không bao giờ có thể xác định được ranh giới bất biến, cố định và cuối cùng, mà cần phải chấp nhận những lằn ranh bất định. [...]

“Phê bình văn học’ chỉ là một thuật ngữ mang tính chất ‘kí hiệu’ [...] nhằm vẫy gọi sự bổ sung ý nghĩa từ phía người đọc; [...] không có một bộ môn phê bình văn học thống nhất và bất biến trong lịch sử.” (Phê bình văn học và những lằn ranh bất định, phebinhvanhoc.com.vn 6/9/2012).

• Trần Đình Sử: “Lí luận phê bình văn học của chúng ta thiếu tinh thần nhân văn đã quá lâu rồi, đến nỗi lấy thế làm thường…”; “Cái mới của thời kì Đổi mới là những người bị phê bình không bị làm kiểm điểm hay xử lí về hành chính và tổ chức, nhưng họ vẫn bị chụp mũ, quy kết, chửi bới, bêu riếu mà không có quyền bảo vệ ý kiến của mình trên mặt báo.” (Tính nhân văn trong phê bình văn học hôm nay, phebinhvanhoc.com.vn 9/7/2013).

• Trần Thiện Khanh: “Phê bình văn học đang mất uy tín, danh giá, thẩm quyền, nó bị coi thường, bị ghẻ lạnh, thậm chí bị xua đuổi, từ chối từ nhiều phía (người đọc, người sáng tác, người làm quản lý văn nghệ và chính những người trong giới), nó bị biến thành công cụ, phương tiện - lúc thì để làm sang, thực hiện các mục đích thực dụng, lúc thì bị vứt bỏ. [...] Chỉ có các nhà phê bình có tên tuổi mới được biện hộ cho mình và được người khác bênh vực, biện hộ, thông cảm sâu sắc cho sự rút lui trận địa của họ; các nhà phê bình trẻ thì luôn bị tước mất khả năng tự vệ, sự độc lập, bình đẳng.” (bđd).

• Phong Lê:

“Hiện đang có một thực trạng không lạc quan lắm [...] Đó là do sự phát triển của báo chí lên đến nhiều trăm tờ thuộc đủ các loại: báo in, báo hình, báo mạng... thì mặc nhiên phê bình báo chí được đưa lên hàng đầu. Như vậy có thể nghĩ: đây là thời phê bình báo chí làm nên gương mặt chủ đạo, c



Tin tức khác

· DẤU XƯA NHẤT LINH
· NHÀ THƠ ĐỖ TRỌNG KHƠI - TỪ THÂN PHẬN GIỚI HẠN ĐẾN CÕI VÔ HẠN THI CA
· KÝ ỨC VỀ NGƯỜI LÃNH ĐẠO KIÊN ĐỊNH, CÓ TẦM NHÌN VƯỢT THỜI GIAN
· NGUYỄN HẢI YẾN - NGƯỜI MỞ RỘNG CÕI TRẦN GIAN - Tiểu luận MAI TIẾN NGHỊ
· NHỮNG HƯỚNG TIẾP CẬN MỚI TRONG TẬP SÁCH 'VĂN HỌC CỔ VIỆT NAM VÀ TRUNG HOA'
· TRẠNG BÙNG PHÙNG KHẮC KHOAN - CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP - Tiểu luận HỮU THỈNH
· NHÀ VĂN VŨ TRỌNG PHỤNG - TÀI NĂNG LỚN, ĐAU ĐỚN LẮM
· TƯỢNG ĐÀI CỦA VĂN HỌC HIỆN ĐẠI SÉC
· NGƯỜI TRAI LÀNG TỪ CHIẾN TRƯỜNG TRỞ VỀ
· BÀN THÊM VỀ TRUYỀN THUYẾT CỘI NGUỒN DÂN TỘC
· TIẾNG VIỆT GIÀU VÀ ĐẸP: 'NƯỚC MẸ' LÀ GÌ? - Tiểu luận LÊ MINH QUỐC
· NỮ THI SĨ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM LÀ AI?
· NHÀ THƠ THANH THẢO - THI CA CỦA NGƯỜI LÍNH VƯỢT QUA CHIẾN TRANH VÀ MẤT MÁT
· VÕ HỒNG - NGƯỜI ĐỨNG NGOÀI DÒNG THỜI ĐẠI
· NHỚ ANH PHẠM TIẾN DUẬT - NGỌN CỜ ĐẦU CỦA THƠ CA CHỐNG MỸ, NGƯỜI CON ƯU TÚ CỦA QUÊ HƯƠNG ĐẤT TỔ
· THI SĨ THÁI CAN - NGƯỜI HỌA THƠ BẰNG NHẠC ĐIỆU - Tiểu luận LA NGUYỄN HỮU SƠN
· NHÀ THƠ BẰNG VIỆT - NGƯỜI GIỮ LỬA THƠ CA
· VỀ NGUỒN GỐC BÀI THƠ 'NAM QUỐC SƠN HÀ'
· GÃ DU CA ĐỨC ĐỘ VÀ NỖI CÔ ĐƠN CỦA CHÀNG LÍNH NGỰ LÂM CUỐI CÙNG
· TRẦN TIẾN - NGƯỜI HÁT THƠ MÌNH

Tin tức mới
♦ CHÙM THƠ HOÀNG QUÝ - KHI NGUYỄN ĐAU NỖI KIỀU BẠC PHẬN (15/02/2026)
♦ DẤU XƯA NHẤT LINH (15/02/2026)
♦ NHÀ THƠ ĐỖ TRỌNG KHƠI - TỪ THÂN PHẬN GIỚI HẠN ĐẾN CÕI VÔ HẠN THI CA (15/02/2026)
♦ KÝ ỨC VỀ NGƯỜI LÃNH ĐẠO KIÊN ĐỊNH, CÓ TẦM NHÌN VƯỢT THỜI GIAN (15/02/2026)
♦ CHÙM THƠ ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN - LẼ GÌ NƯỚC MẮT TRONG ĐỜI MẶN HƠN (13/02/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 1884804
Trong thang Trong tháng: 172474
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 80557
Truc tuyen Trực tuyến: 15

...

...

Designed by VietNetNam