Trương Vĩnh Ký được coi là người đặt nền móng cho báo chí quốc ngữ Việt Nam, gắn liền với tờ Gia Định báo. Cho đến nay, các tác phẩm báo chí mà ông để lại vẫn không hề lỗi thời mà tiếp tục phát huy ý nghĩa và sức mạnh.
Có hai trường hợp đáng chú ý: cái chết của Nguyễn Du và tâm trạng vua Tự Đức. Theo “Chính biên liệt truyện”, Nguyễn Du bị bệnh nặng, sắp mất bảo người sờ chân xem còn nóng không. Thấy nói “đã lạnh”, ông bảo “được” rồi ra đi. Ông không chịu uống thuốc từ đầu, vì là người thông minh, ông biết bệnh ấy thời của ông không chữa được. Đó là bệnh dịch tả, trong trận đại dịch (1820). Theo lời tấu của Phạm Đăng Hưng với nhà vua, bệnh dịch có lẽ là do từ một nước Tây dương đưa vào ta.
Trên mạng xã hội Facebook, bài văn của một học sinh lớp 10 chuyên Văn một trường chuyên ở Hà Nội về "một bài học ý nghĩa, sâu sắc mà cuộc sống đã tặng cho em" đang nhận được nhiều chia sẻ.
Nhà thơ Y Phương kể một chuyện kỳ lạ của dân tộc Tày: “Người ta hỏi, tại sao Mòn không lấy vợ. Mòn gãi tai gãi đầu xấu hổ. Lão làm một nhát Pí! Raẳm rooi! Câu này tôi chịu, không thể dịch ra tiếng Kinh được. Nghĩa là… xấu lắm, bẩn tưởi lắm. Tạm hiểu nó như thế. Nhưng bạn phải được nghe trực tiếp bằng tiếng Tày, mới sướng. Chữ pí phải chúm môi lại, nhổ một bãi thật mạnh, rồi mới đánh “chịt” đóng lại. Nó tỏ rõ thái độ coi thường, chả ra gì. Ai mà làm cái ấy thì thật là kinh tởm. Lấy vợ mà kinh tởm á Mòn? Thích bỏ xừ đấy Mòn à. Mày không tin, cứ thử một lần xem sao. Há há há hú hú hú !!! Thế là Mòn ù té chạy một mạch về hang. Đó làm nơi cư trú thường xuyên, kể từ ngày lão xuất ngũ, phục viên đến giờ. Một địa chỉ hấp dẫn trẻ con phố huyện”.
Về nhân vật Võ Duy Dương, những gì được viết trong sách cũng chứa đầy những lỗi sai cơ bản về gia phả, tiểu sử, hành trạng cho đến tên gọi (các trang 222-224). Chẳng biết dựa vào đâu, tác giả cuốn sách đã cho rằng "Võ Duy Lập đã phải đổi tên thành Võ Duy Dương…", trong khi đây là hai người hoàn toàn khác nhau. Thậm chí tên gọi Thiên hộ Dương cũng bị sách bịa tạc, sửa thành… Thiên hộ vương. Nghiêm trọng hơn cả, hai tác giả cả gan gán ghép cho rằng Võ Duy Dương là cha đẻ của Nguyễn Sinh Sắc. Trang 228 - 229 viết: "Thiên hộ Võ Duy Dương có 5 người con Võ Cường, Võ Kỳ, Võ Sắc, Võ Thị Thắm, Võ Thị Lan. Sau khi rời Đồng Tháp Mười về quê, Võ Sắc vừa lên 4 tuổi … Để che giấu bọn thực dân Pháp và tay sai thân Pháp, ông (Võ Duy Dương) liền tìm cách liên lạc với ông đồ Hoàng Đường ở Nghệ An, nơi có quan hệ ruột thịt với Tổng trấn Hoàng Diệu … Vì lẽ đó nên thầy Hoàng Đường tìm đủ mọi cách để cho Võ Sắc có cha đẻ hẳn hoi và lấy họ của người gọi là cha, sao cho thật hợp lý và hợp Pháp, nên Võ Sắc đã được nhà giáo Hoàng Đường hợp pháp hóa vào họ Nguyễn ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An thay vì họ Võ Duy ở Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi".
Nhân loại có các nền “văn minh thìa dĩa” (Âu Mỹ), “văn minh đũa tre” (Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật, Việt Nam) và “văn minh ăn bốc”… người Thái đen Việt Nam ở Sơn La thì trong mâm cơm: Mỗi người bao giờ cũng có bát con riêng, 1 cái thìa, 1 đôi đũa… riêng ăn cơm nếp xôi thì “bốc” (tay đã rửa sạch); chỉ khi ăn cơm tẻ thì xới ra bát, lấy ăn thì xúc, chứ không quen “và” như người Kinh. Ăn canh thường không “chan” mà dùng thìa múc đưa thẳng vào miệng. Bát chấm mặn thường là muối ớt cộng mắc khén (hạt tiêu rừng) hoặc bát nước chấm pha chế (nậm pịa khi ăn thịt trâu, bò, dê).
'Sơn La Ký sự ' là một ký sự dài của Nguyễn Khôi (Khôi Đình Bảng) viết về những nét đẹp về Đất và Người Sơn La. Phải gắn bó đến tận cùng ruột thịt với đồng bảo bản địa, Nguyễn Khôi mới có những trang Ký sự vừa ngồn ngộn tư liệu vừa rất ân tình và đầy cảm xúc. BK.org xin lần lượt trích đăng một số trang Ký sự xuất sắc của tác phẩm này của Nguyễn Khôi cùng bạn đọc trong và ngoài nước (TS Mai Bá Ấn)
Tịnh Đế Liên là đóa hai hoa sen nở trên cùng một cuống, được xem là loài sen đứng đầu về sự thanh tao thuần khiết, quý hiếm, biểu thị điềm lành và xưa kia dành tiến vua nên mới có tên "Tịnh Đế".
NTT: Những ngày cuối tháng Tư năm nay tôi đi Đà Lạt và Đà Nẵng, có lúc rỗi, lên mạng tìm những tư liệu về “phía bên kia” và bắt gặp hồi ký của người Tùy viên cho ông Tướng VNCH Nguyễn Khoa Nam. Đọc bài hồi ký khá dài này, tôi hiểu thêm tâm trạng những người lính “đối phương”, mà điển hình là tâm trạng của một người chỉ huy cấp Tướng trong lúc thất thủ. Có thể “tầm nhìn” của người Trung úy tùy viên còn hạn chế, nhưng với giọng văn khá chân thật, khiến ta hiểu thêm phần nào sự thật ở những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh dài. Dưới đây là phần trích bài hồi ký của LÊ NGỌC DANH.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.