Thể loại văn học, hiểu một cách chung nhất là “dạng thức của tác phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển của lịch sử văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm”(1). Thể loại vừa mang tính ổn định, lại vừa biến đổi, là một phương diện quan trọng để tìm hiểu lôgic và quy luật vận động của đời sống văn học.
Người làm thơ cần rất nhiều thứ phát hiện. Nhưng quan trọng nhất, cần thiết nhất là phát hiện ra năng lực mình, sở trường mình, cái mạnh nhất của mình. Tôi tin Mai Hương nhanh chóng phát hiện ra mình, phát hiện ra cái mạnh của mình, sở trường của mình…
Nếu nhà thơ thường xuyên bóp méo cấu trúc của hiện thực để giữ lại cấu trúc của cái tôi, như Ch. Caudwell từng nói, thì cấu trúc của cái tôi thi sĩ luôn cho thấy một cách sâu sắc quá trình tự ý thức của con người qua sáng tác văn học. Sự tự ý thức này đồng nghĩa với tiếng nói trữ tình trong tâm hồn thi sĩ.
Sự hiện diện của chủ nghĩa Marx ở miền Nam trong giai đoạn 1954-1975 là sự kéo dài ảnh hưởng từ trước đó trong một bối cảnh đấu tranh tư tưởng và xã hội gay gắt hơn, dữ dội hơn, và vì vậy mà cách tồn tại của nó trở nên linh hoạt và tinh vi hơn.
Câu chuyện đổi mới hay cách tân thi ca Việt đã không còn là mới lạ, trái lại nó đã được bàn thảo khá nhiều và khá lâu. Từ cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX cho đến nay, có hai khuynh hướng cách tân thơ khá rõ nét.
Thấy bút lại chạy đều đều trên trang giấy mang nhãn hiệu khách sạn. Thạch Lam khác hẳn. Con người nhẹ nhàng, lặng lẽ, khiêm nhường mà bao dung ấy không bao giờ sai hẹn với báo. Có lẽ chỉ trừ một lần với ông anh ruột Nhất Linh. Thế Lữ nói: Thạch Lam là người trầm lặng. Nguyễn Tuân thì bảo ở Thạch Lam hầu hết là độc thoại nội tâm.
Từ Baudelaire, Mallarmé, Valléry…, quan niệm thẩm mỹ về cái Đẹp và triết lý sáng tác thơ, truyện của nhà văn Mỹ Edgar Allan Poe - nhà thơ, lý thuyết gia của quan niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật”, ông tổ của truyện trinh thám, kinh dị và phiêu lưu huyễn tưởng thế giới - đã “nhập tịch” vào quan niệm nghệ thuật của nhiều nhà thơ, nhà văn lãng mạn Việt Nam từ những năm đầu thế kỉ XX. Đó là quan niệm nghệ thuật về Cái Đẹp thuần khiết, độc lập với Đạo đức và Chính trị, và “Nỗi buồn là địa hạt chính đáng nhất của thơ ca”. Đặc biệt hơn, Poe còn đề cao lý trí, cho rằng “nghệ thuật là sản phẩm của trí tuệ”. “Triết lý sáng tác” kì lạ của ông tuy ban đầu bị nhiều cây bút lên án, nhưng đến nay, đã trở thành những công thức sáng tác mẫu mực không chỉ cho văn học Mỹ mà còn cả văn học thế giới, trong đó có văn học Việt Nam.
Đến với thơ của nhà thơ Vũ Quần Phương bao giờ cũng là trở về với Tiếng Việt trong sáng và thân thương. Những con chữ tự nhiên như nước chảy, như mây trôi, như nụ cười, như nước mắt cuộc đời này.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.