Tháng 9 năm nay, thông tin loại bỏ nhiều tác phẩm của Lỗ Tấn khỏi sách giáo khoa ở nhiều địa phương lập tức gặp phải phản ứng gay gắt từ công chúng. Nhiều học giả và cộng đồng mạng gọi đây là một “thảm kịch”. Bộ Giáo dục Trung Quốc và các nhà xuất bản sách giáo khoa đã phải lên tiếng trấn an rằng chỉ có 1 hoặc 2 tác phẩm của Lỗ Tấn bị rút khỏi sách. Họ cũng nói thêm, AQ chính truyện dù không còn là tác phẩm bắt buộc, học sinh vẫn có thể tự chọn để học. Dư luận tại Trung Quốc phần lớn cảm thấy không thuyết phục, một người lý giải: “Những vấn đề mà ngày xưa Lỗ Tấn chỉ trích lại tái hiện ngày hôm nay. Hầu hết tác phẩm của ông khuyến khích những tầng lớp bị đè nén đứng lên đấu tranh cho quyền lợi của mình. Vì thế, nó không phù hợp với chủ trương của nhà nước”
Không hiểu vì sao khi gấp lại tập thơ này, trong đầu tôi cứ bảng lảng hai câu thật giản dị: “Gửi nhớ cho quên gửi buồn cho cũ“, và “Tôi buồn quá vì em xinh đẹp quá“.Đấy là tâm trạng của anh trong đời, là quan niệm về nhớ – quên, buồn – cũ, buồn quá – đẹp quá, hay là chính tâm trạng của tôi sau khi đọc thơ anh? Thật khó mà giải thích rõ ràng.
Nếu ai từng gặp một Lê Minh Quốc của thường nhật với công việc làm báo, làm MC, làm sách lịch sử, tuyển chọn thơ… chắc hẳn sẽ ngạc nhiên vì không hiểu anh sắp xếp thời gian thế nào để có thể “ôm” việc nhiều đến thế. Lạ hơn nữa, thơ anh phảng phất những “bóng hồng”, nhưng anh thường độc hành, đơn thân trong các cuộc vui. Lúc đó, anh thuộc về số đông với sự dí dởm, thông minh và hài hước sẵn có. Cái chất giọng Quảng Nam còn lẩn khuất trong âm điệu của người đàn ông xa xứ đã lâu vẫn làm cho bao cuộc xôm tụ rôm rả tiếng cười. Lúc đó, anh thực sự thoát khỏi con người thơ u sầu, vò võ và cô đơn trong tình yêu. Nhà thơ Lê Minh Quốc từng tự nhận mình bị nghiệp thơ và người thơ đày đọa. Giờ đầu đã hai thứ tóc nhưng anh vẫn như một gã trai giang hồ không bến đỗ bình yên, không có một tổ ấm như bao bạn bè cùng trang lứa...
Tôi viết bài này bằng bút bi, khi đưa in báo Văn Nghệ do “khuôn khổ báo có hạn”, bị cắt bớt một vài đoạn. Lần tái bản cuốn Một cõi Trịnh Công Sơn, tôi đưa thêm bài này vào trọn vẹn. Nhưng hiện nay tôi chưa có bản vi tính bài viết này, tìm trên Google, thấy nó nằm trong blog của bạn trẻ mang tên Garcon. Khi nhà thơ Huy Cận còn sống, ông ấy thích bài viết Có một nhà thơ tên là Trịnh Công Sơn, thế là mấy lần gặp tôi ông cũng nói một câu đầy cảm động: Cảm ơn Trọng Tạo đã cho Huy Cận biết Trịnh Công Sơn là một nhà thơ tài hoa. Tôi đùa ông: Em đã nghe anh “cảm ơn” mấy lần rồi mà! Ông cười: Khi mình đã thích thì cảm ơn bao lần cũng không thừa đâu.
Tập thơ Chân dung nhà văngồm 100 chân dung 100 nhà văn, nhà thơ được viết bằng thơ (đa phần là thơ tứ tuyệt) của Xuân Sách viết từ năm 1962 đến 1992 mới được in thành sách, tính đến nay đã gần 20 năm tuổi. Song, ngay từ khi ra đời từng chân dung thì Chân dung nhà văn đã được “truyền miệng” rộng rãi không chỉ trong giới văn nghệ mà cả trong đông đảo công chúng văn nghệ. Sự tiếp nhận của người đọc, nhất là trong giới văn nghệ, đặc biệt là những người có tên trong danh sách 100 chân dung thật đa dạng với đủ các cung bậc phản ứng khác nhau. Có một chi tiết thật bất ngờ là có một số người phản đối Chân dung nhà văn chỉ vì không có chân dung của mình, cứ như là phải được Xuân Sách viết chân dung thì mới là nhà văn có giá!
Thế là đã gần sáu trăm năm, một vụ án oan, vô cùng thảm khốc, giết cả ba họ đại công thần khai quốc Nguyễn Trãi đã chìm vào quá vãng, như một vết bầm tím đau thương của lịch sử dân tộc. Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ, cùng bảy chục người trẻ già gái trai vô tội, phải rơi đầu trong một sớm. Dẫu rằng vua Lê Thánh Tông sau đó đã minh oan cho Nguyễn Trãi, nhưng những kẻ thủ mưu tàn độc thì vẫn lẩn khuất đâu đó sau tấm rèm vàng son quyền lực, không có ai dám chỉ mặt vạch tên. Một câu chuyện lịch sử bi thương đã gần sáu trăm năm, vẫn chưa hề cũ. Nó vẫn còn “mưng mủ”, còn nhức nhối trong lòng các thế hệ hậu sinh! Trần Mạnh Hảo là một trong những nhà thơ đã thể hiện thành công cảm xúc của mình, bằng một bài thơ khá dài.
Trong thời kỳ trung đại, văn chương khoa cử và văn chương sáng tác tự do có mối liên hệ hết sức mật thiết. Văn thể với tư cách vừa là hình thức thể hiện lẫn đặc điểm tinh thần chủ thể sáng tạo được thể hiện ra cũng vì thế vừa là chuyện của văn chương khoa cử, vừa là cái phản ánh tinh thần sĩ phu và hiện trạng của sáng tác văn học nói chung. Giai đoạn cuối thế kỷ XVII, thế kỷ XVIII, nhà nho nhận thấy có rất nhiều điều bất ổn trong giáo dục, khoa cử, trong văn thể. Một cuộc vận động cải cách văn thể đã diễn ra khá sôi nổi. Có một vài vấn đề nghiên cứu được đặt ra là: Thực chất của cuộc vận động cải cách văn thể này là gì, đối tượng mà các nhà nho mong muốn cải cách là gì? Nó thể hiện những vấn đề gì ở đời sống tinh thần, mối quan tâm của tầng lớp sĩ – các tác gia của văn học? Cuộc vận động cải cách đã có tác động như thế nào đến đời sống văn học thế kỷ cuối thế kỷ XVII, thế kỷ XVIII nói chung và những tác động xã hội, văn hóa của cuộc vận động này đối với đương thời như thế nào? Bài viết bằng hướng tiếp cận văn hóa và tư tưởng, hy vọng làm rõ một số vấn đề văn học sử giai đoạn này.
Nhà thơ Ko Un sinh năm 1933, ông bắt đầu sự nghiệp của mình từ những năm đầu 1950. Ko Un là tác giả của 135 cuốn sách thuộc nhiều thể loại: tiểu thuyết, tiểu luận, dịch thuật, kịch và thơ ca. Trong đó, thơ ca được biết đến nhiều nhất. Cho đến nay, ông là một nhà thơ quan trọng của nền văn học Hàn Quốc và nhiều lần được đề cử giải Nobel. Nhà thơ Hữu Thỉnh khẳng định: “Ko Un là niềm tự hào của văn học Châu Á”.
Cuốn Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa vừa ra mắt đã ngay lập tức trở thành một “hiện tượng văn học” vốn đang rất buồn tẻ của đời sống văn học vào cuối những năm 1900. Đó là dấu hiệu mở đầu cho sự “trở dạ” của văn học khi chuẩn bị bước sang những năm 2000? Hay chỉ đơn thuần là vì “Thần đồng thơ ca” bỗng nhiên nhảy vào khu vực Phê bình văn học vốn luôn được xem là vừa thiếu vừa yếu nên người ta tò mò muốn xem Thần đồng “Nói Trạng” ra sao? Có lẽ là cả hai vì cái đám đông gọi là “công chúng văn học” kia không dễ gì bị lôi cuốn. Từ đó đến nay đã sắp qua 12 con giáp. Vào cuối năm 2007, đầu năm 2008, nghe nói Chân dung và đối thoại sẽ được in lại trọn bộ hai tập (nhân kỷ niệm 10 năm tuổi?), song không hiểu sao vẫn chưa thấy? Lẽ ra tôi phải chờ Bản in trọn bộ mới viết bài này, nhưng chờ đến bao giờ thì chưa biết chắc. Vì thế. Cách chờ tốt nhất là cứ viết rồi sẽ điều chỉnh, bổ sung sau…
Trong buổi nói chuyện với độc giả ngày 13/10 tại L’Espace (Hà Nội), nhà văn gốc Việt viết bằng tiếng Pháp Linda Lê cho rằng, đóng góp của các nhà văn không quốc tịch đối với mảnh đất mà họ chọn để sống là ở chỗ họ đã nhằm tới tính phổ cập bằng cách tẩy rửa điều tiên nghiệm, bằng cách chống lại những định kiến về mỗi dân tộc, về người da trắng, da đen, người châu Á, về những người nhập cư đã đồng hóa hay biệt lập.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.