Đằm sâu trong lòng nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn, một người phụ nữ hay cười, hay làm người khác vui là một tâm hồn nhiều đa đoan, nghĩ suy, đôi khi bà cười nhưng trong lòng “khóc thầm” vì nhiều nỗi khổ không dễ sẻ chia…
Thơ là một hiện tượng ngôn ngữ đặc thù. Có nhiều định nghĩa về thơ. Nhưng ở trường hợp này, tôi thích nhất cách hiểu thơ như là thứ ngôn ngữ tự quay về với chính nó. Ngôn ngữ thơ, như vậy, là ngôn ngữ tự trị, tự nó đầy đủ với nó. Nghiên cứu thơ, vì thế, ở phạm vi căn cốt nhất, chỉ cần nghiên cứu mối quan hệ chữ nghĩa, chữ và nghĩa, xem cái nào là chính cái nào là phụ, cái nào đi trước cái nào đi sau, cái nào nặng cái nào nhẹ, để từ đó nhận diện, phân loại được thơ.
Cầm tập thơ thứ 4 của nhà thơ Trần Dzạ Lữ trên tay, điều đầu tiên, tôi mỉm cười trước cái tựa đề rất ấn tượng : CỨA NÁT MUÔN TRÙNG. Nhìn trang bìa, một màu xanh mát mắt cùng bức tranh Nhật Nguyệt càng gây thêm tò mò trong tôi: điều gì khiến cho nhà thơ chọn tiêu đề như trên nhỉ?
Nếu đưa vào danh mục những nam nhà thơ đam mê và sống chết với cây bút của mình, yêu thơ đến độ có thể ngồi hàng giờ để bàn bạc các vấn đề của thơ ca, viết, viết và viết như thể không cầm bút là… chết, thì đó là nhà thơ Lê Minh Quốc.
Trong lịch sử văn học nghệ thuật Việt Nam, Đào Tấn là hiện tượng đặc biệt, một ông quan to, đồng thời là một nghệ sĩ lớn nhất ở thế kỷ 19. Một con người thăng quan tiến chức rất nhanh và rất cao do tài năng và công lao phát triển nghệ thuật. Do đó ngành tuồng từ miền Bắc đến miền Trung và Nam bộ đã suy tôn Đào Tấn là “Hậu tổ”. Đào Tấn cũng được đặt tên cho một con đường ở quận 5, TPHCM, từ năm 1960 trước cả Hà Nội và nhiều thành phố khác.
Là một nhà thơ có lối phóng bút tự do, chân chất và “mộc” ngay như bút danh của ông - “Bút Tre”, thế nhưng từng có một thời chính cái giản dị mộc mạc trong thơ Bút Tre ấy bị xem là sự non nớt, tùy tiện trong nghệ thuật, phải kiểm điểm… và cuộc đời ông cũng mộc mạc, đầy sóng gió như chính những vần thơ của ông vậy. Đến mãi sau này, người ta mới thấy hết được cái hay, cái ý nghĩa trong thơ Bút Tre.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.