Tôi chưa một lần được gặp Nguyễn Viết Lãm ở ngoài đời nhưng qua những trang thơ, trang hồi kí, cùng các bài tiểu luận phê bình văn học, tôi hình dung ra một Nguyễn Viết Lãm, một nhà văn hoá đa diện giàu tri thức, kinh qua nhiều trải nghiệm mà vẫn giữ trong mình cốt cách, phẩm tính của một thi sĩ tài hoa. Sự nghiệp văn học của Nguyễn Viết Lãm khá phong phú, ông viết nhiều, bền bỉ như chính con người mình: thơ ca, hồi kí - tùy bút, dịch thuật, nghiên cứu - phê bình. Ở lĩnh vực nào, Nguyễn Viết Lãm cũng để lại những dấu ấn riêng. Song, trước hết, nhắc đến Nguyễn Viết Lãm là nhắc tới một nhà thơ mà hành trình thi ca và đặc trưng thơ của ông đã có những đóng góp nhất định cho thơ ca Hải Phòng nói riêng và thơ ca Việt nam nói chung.
Trong gia đình Nguyễn Anh Nông, có lẽ ảnh hưởng nhiều nhất đến nhà thơ là người cha - một người trải qua nhiều gian khổ trong chiến tranh. Nguyễn Anh Nông đã tiếp bước cha mình, nhập ngũ năm 1980, lên biên giới phía Bắc. Vì vậy, Nguyễn Anh Nông hiểu và viết sâu sắc về người chiến sĩ qua những ký ức về một thời đã qua của dân tộc. Hình ảnh người chiến sĩ được Nguyễn Anh Nông khắc họa sâu sắc với những nét riêng biệt và thể hiện tiêu biểu nhất qua tập thơ Những tháng năm ở rừng và trường ca Trường Sơn.
Nhà thơ - Tiến sỹ triết học Gjekë Marinaj đã có mặt tại Việt Nam từ 31/5 đến 7/6/2014 nhân dịp ra mắt bản dịch của ông từ Anh ngữ sang Anbani ngữ tập thơ "Zanore në vesë/ Những nguyên âm trong sương sớm” (Nxb. Hội Nhà văn VN tái bản bản Anbani ngữ của Nxb. BOTIMET M&B Anbani 4/2014, có bổ sung bản Việt ngữ, 5/2014) và tập thơ “Những hy vọng trong suốt” (Nxb. Hội Nhà văn VN, 5/2014) của Gjekë Marinaj do nhà thơ Nguyễn Chí Hoan dịch từ Anh ngữ. Gjekë Marinaj còn là nhà văn, dịch giả, nhà phê bình văn học uy tín tại các nước Âu - Mỹ. Trước khi sang Việt Nam, Gjekë đã có cuộc trò chuyện qua email khá lý thú với nhà văn Bão Vũ về các vấn đề xung quanh công việc sáng tác của nhà văn và đời sống văn học tại hai quốc gia.
Công việc bình thơ là một công việc tuy khó nhưng hết sức lý thú. Mỗi khi phát hiện được vẻ đẹp ẩn chứa trong những câu thơ, bài thơ mà mình ưa thích và nói được những điều mình cảm, mình nghĩ để mọi người cùng chia sẻ là niềm hạnh phúc lớn lao đối với người bình thơ.
Tôi và Tùng Linh ngồi bên nhau dưới tán lá cây sanh trong quán cà phê nhỏ ở công viên thành phố Tân An (Long An). Vài chấm nắng thật mỏng thỉnh thoảng lại rơi xuống mặt bàn cùng với gió. Cây sanh cùng họ với cây si. Người Nam Bộ thường gọi cây si là cây gừa. Lá cây sanh có màu xanh non, mềm hơn lá si. Rễ của nó rủ xuống cũng thưa hơn, thướt tha hơn cây si.
Khi nói đến văn học Việt Nam từ sau năm 1986, mọi người mặc định đây là thời kỳ văn học đã thực sự có những đổi mới sâu sắc và toàn diện. Thậm chí, có khi chỉ cần nhắc đến khẩu hiệu “nhìn thẳng vào sự thật”, nói thật của nhà văn lúc bấy giờ, độc giả đã thấy văn học khác trước rất nhiều. Xu hướng ca ngợi một chiều, rập khuôn, thu mọi sự đánh giá về “văn học Đổi mới” vào thứ hình dung mặc định, đã và đang đưa đến rất nhiều ngộ nhận về giai đoạn văn học đặc biệt này. Đã gần ba mươi năm trôi qua, nghĩa là chúng ta đã có một độ lùi thời gian cần thiết, để nhìn lại và nhận điện, lý giải đúng hơn văn học sau 1986.
Tháng Sáu, những ngày nắng bắt đầu gay gắt, mưa rào không “nhượng bộ”, bạt ngàn hoa với ngạo nghễ sắc màu, và dàn đồng ca ve sầu vang lên không ngớt… Dường như vạn vật đang bắt nhịp vào một đời sống khác, sôi động, nhiệt thành, nóng bỏng nhưng không kém phần lãng mạn. Giữa những ngày tháng Sáu, ngay cả nỗi buồn cũng rực lên như thiêu cháy tâm can. Có lẽ vì những đặc trưng đó mà những bài thơ dành tặng tháng Sáu vẫn luôn khiến bạn phải nhớ và tìm đọc lại…
Như vậy, trong quan niệm của các nhà lý luận - phê bình văn học ở miền Nam mối quan hệ văn học và tôn giáo là thực thể hiện hữu trong đời sống văn học, là qui luật vận động trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc, không chỉ trong sáng tác mà cả trong phê bình văn học. Và ở lĩnh vực nào mối quan hệ này cũng được thể hiện sinh động, đa dạng và phong phú.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.