Ông tham gia văn đàn với nhiều thể loại: Thi ca, kịch bản văn học, phê bình, tiểu luận, truyện ngắn, tiểu thuyết, tùy bút, bút ký… Những đóng góp trên nhiều địa hạt ấy đã khẳng định vị trí đặc biệt quan trọng của Lưu Trọng Lư đối với tiến trình phát triển văn học nghệ thuật của nước nhà.
Hoàng Nhuận Cầm, Vũ Đình Văn, Nguyễn Văn Thạc cũng như hàng ngàn sinh viên khoảng mười chín, đôi mươi đang học dở hoặc vừa mới tốt nghiệp Đại học, đúng lúc chiến tranh đang vào hồi quyết liệt. Hậu phương đã dâng “những dòng máu tươi nhất” cho mặt trận. Vũ Đình Văn vào bộ đội tên lửa, rong ruổi dọc miền Trung, rồi quay ra Hà Nội trong những ngày B52 năm 1972, và hy sinh ngay tại mặt trận phía tây thành phố, để lại những câu thơ nhói buốt tận sâu trong tâm can người đương thời.
Trong ngổn ngang nhà cửa đồng ruộng đất đai bị cày xới, hố bom to hố bom nhỏ chằng chịt. Ông xót xa liên tưởng đến sẹo đất như sẹo trên da thịt người! Bài “Sẹo đất” vuột ra chả phải ngẫm ngợi chi nhiều!
“Mình đã để lạc mất cô dâu”. Đó là câu mà Nguyễn Ngọc Tư dùng để mở đầu truyện ngắn Đánh mất cô dâu (in trong tập truyện Đảo, Nxb Trẻ, 2019, bản in lần thứ 8).
Trên báo Tiền Phong Chủ nhật số ra ngày 7.7.2024, trong bài về nhà thơ Hoàng Cát, tôi có viết “Cái năm 1974 ấy, làng Văn sao lắm việc chẳng lành. Văn có “Cây táo ông Lành”, thơ có “Vòng trắng” của Phạm Tiến Duật, “Sẹo đất” của Ngô Văn Phú. Như một dạng “Cố sự tân biên – Chuyện cũ viết lại” người viết xin đề cập đến chuyện năm xa ấy!
Đơn giản, điên là mất tất cả những gì thuộc về người tỉnh táo bình thường, nhưng được một cái gì riêng họ mà ta không biết, vì ta chưa kịp điên, lỡ điên cũng chẳng chịu nhận mình điên, như thằng say có bao giờ chịu nhận mình say… cho nên đố mà ai hiểu được cái gọi là bí nhiệm ở những kẻ thơ điên, thơ say… mãi tôn vinh cái Đẹp, chạy theo cái kỳ mỹ giữa đời.
Những lời nhắc nhở, răn dạy của Tổng Bí thư như còn đang vang vọng ở đâu đây, mà bác đã đi xa lắm rồi. Những thế hệ văn nghệ sỹ Việt Nam nguyện khắc ghi lời Bác, noi gương Bác. Riêng tôi, trên Huân chương Lao động hạng Nhì của mình có chữ kí tươi, mực xanh của Bác sẽ là một kỉ niệm quí giá, niềm vinh dự còn mãi.
Thầy tôi, khi dạy chữ thánh hiền, thầy đã truyền cho học trò mình “động lực nội tâm” ấy. Thầy đi xa, nhưng thầy đã có bao đệ tử chân truyền, chịu ảnh hưởng nhân cách và trí tuệ của thầy. Đó là niềm vui, là hạnh phúc truyền đời của thầy tôi!
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.