Cách đây gần mười năm, tôi từng cất công tìm về vùng quê lúa, thực hiện bài phóng sự về Nhà văn viết đứng, nhà thơ viết nằm. “Nhà văn viết đứng” là Trần Văn Thước, còn “Nhà thơ viết nằm” là Đỗ Trọng Khơi. Họ rất đặc biệt, bởi đều là những người khuyết tật, vượt lên số phận và trở thành tác giả văn học. Hai bài viết sau khi đăng báo, xôn xao dư luận, đã được chọn đưa vào tập chuyện làng văn nghệ và chân dung văn nghệ sĩ mang tên Đa tài và đa tình (NXB Hội Nhà văn, 2005)…
Một hiện tượng lạ đã xảy ra trong lịch sử văn học Việt Nam thời đất nướcchống xâm lược Mỹ, đó là sự xuất hiện thơ ca Trần Đăng Khoa. Hiện tượng đó đến nay vẫn chưa được nghiên cứu, lý giải thấu đáo và thống nhất. Bí ẩn của nó dường như vẫn nguyên vẹn với biết bao thú vị. Danh hiệu Thần đồng thơ ca của Khoa gắn với việc ra đời tập thơ “Góc sân và khoảng trời” được Ty Giáo dục Hải Dương cho xuất bản lần đầu năm 1968.
Lịch sử trường ca được biết đến bởi những hứng khởi và niềm đam mê trên dòng sông sáng tạo bí ẩn của văn học. Dòng sông ấy chảy trôi mãi mãi về phía vô cùng vô tận do chính những nghệ sĩ sinh ra và mải miết đi trong cõi thẳm sâu mịt mùng của cõi người. Trên con đường riêng biệt và đầy số phận này, con người khao khát vươn tới tự do thuần khiết trong thế giới tinh thần.
Có một người bạn cùng nghề, cùng lứa, một nhà văn viết truyện ngắn mà tên tuổi không xa lạ lắm đối với bạn đọc, có lần đã tâm sự với tôi như thế nầy: “Tôi không bao giờ muốn viết bút ký. Dẫu có những cái nó là thực đến một trăm phần trăm, nó là ký rõ ràng, thì tôi vẫn cứ uốn nắn nó lại đôi chút để thành truyện ngắn”.
Bài lục bát “Một lần ru ngoại” của Nguyễn Ngọc Hưng là bài thơ vừa đạt giải tư trong cuộc thi thơ lục bát “Nghìn năm thương nhớ” kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Bài thơ vừa được giải đã có sức lan tỏa lớn, không những ở trong nước mà lan tỏa đến tận trời Âu làm rung động lòng một cô gái Việt xa quê, để rồi từ đó “Một lần ru ngoại” của Nguyễn Ngọc Hưng được vọng âm đồng cảm tạo nên một “lần ru” khác. Đây là hiện tượng đồng sáng tạo giữa tác giả và độc giả qua thi phẩm văn chương. Bichkhe.org xin giới thiệu bài thơ và lời bình đồng vọng của tác giả Võ Thị Như Mai cùng bạn đọc gần xa (TS. Mai Bá Ấn)
Hôm 5-7-2010, Hội nhà văn VN đã long trọng tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà văn Nguyễn Tuân. Nhằm giúp bạn đọc vốn yêu quý tác giả “Vang bóng một thời” có thêm tư liệu sinh động, xin giới thiệu lại bài viết của nhà thơ Trần Đăng Khoa về sự hâm mộ Nguyễn Tuân từ phía nhà văn Nga – Marian Tkachop.
Nhắc đến Phan Khôi, người ta thường nói đến tính cách “Quảng Nam hay cãi” biểu lộ cực kỳ rõ rệt nơi con người ông. Song nét đặc trưng riêng biệt của “tính cách Phan Khôi” lại là nét này: ông hầu như không thể nói dối, không biết nói dối. Có khá nhiều người mang tính cách “hay cãi” của người xứ Quảng, nhưng họ vẫn không đủ bản lĩnh để có thể thật thà như Phan Khôi.
Còn lĩnh vực thông diễn học (thông diễn học thần học, triết học thông diễn học, thông diễn học triết học, thông diễn học văn học, thông diễn học văn hóa, thông diễn học thẩm mỹ….) là lĩnh vực hết sức phức tạp, có nhiều quan điểm khác nhau, mâu thuẫn và bổ sung cho nhau, nên các tác giả (Đỗ Lai Thúy và Trần Đình Sử) cũng khó có thể trao đổi, trình bày rõ ràng trong khuôn khổ bài báo.
Trong số những nhà văn lớn của dân tộc, Nguyễn Tuân là người chiếm được nhiều trang viết và bình về ông, về tác phẩm của ông một cách kỳ ảo và tung tẩy nhất. Có lẽ do cái “chất xúc tác Nguyễn Tuân” đã làm nên hiệu ứng như vậy. Nguyễn Tuân là một nhà văn đã đưa vào văn chương Việt thành công cái “TÔI” lớn lao của con người xã hội, con người chủ thể, con người sáng tạo.
Những bậc đàn anh của chúng ta như Nguyễn Thi, Anh Đức, Viễn Phương, Nguyễn Quang Sáng, Hoàng Văn Bổn… tức những ai đã trải qua cả hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ - các anh ấy đã phải vượt qua tới 2 lần sát hạch, có được haitờ giấy thông hành làm nhà văn. Các nhà phê bình khi đánh giá, bình xét một nhà văn chỉ căn cứ trên những gì nhà văn đó viết ra trong tác phẩm của mình.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.