Ở tương quan kép, khi thơ là kết quả, bản sắc thơ từng bị nguy cơ hết tính thơ, mất chất thơ trong thời (hậu) hiện đại; khi thơ là nguyên nhân, bản sắc thơ cũng phải nhận bản án Nàng Thơ đã bỏ cuộc chơi - bỏ chú Cuội bỏ chị Hằng theo ông đại gia Bill Gates leo lên lưới!
Từ suy nghĩ ấy, Xuân Diệu gợi ý thái độ “kính nhi viễn chi” đối với hình thái thơ này. Khó trong lối thơ của Mallarmé là khó có dụng tâm. Đẩy độc giả lâm vào tình thế “bất khả giải” chính là mục đích trong sáng tạo của các thi sĩ này.
Đúng là tôi có làm chính trị một thời gian dài, và như người ta thường nói, “xay lúa khỏi bồng em”. Trong thời gian ấy, chỉ khi có hứng mới làm và chỉ làm thơ. Không bao giờ dùng thơ làm cái loa phát ngôn cho những nhiệm vụ và công tác chính trị. Một lý do nữa là thời gian đó tôi cũng ít đưa in thơ. Nên khó gọi là một mùa.
Ngày bé, nàng nghĩ ra những người bạn nhỏ, sống riêng trong thế giới của mình. Từ chú gấu Misa chuyên rơm rớm nước mắt nếu không được thường xuyên quan tâm ẵm bồng cho đến cô bạn thân – chẳng bao giờ lớn lên – Mị.
Ngày nay nói đến Chinh phụ ngâm là bạn đọc nghĩ ngay đến bản dịch này, chứ ít người có điều kiện để tiếp cận với nguyên bản chữ Hán của tác giả. Và có lẽ sau Truyện Kiều, bản dịch Chinh phụ ngâm này được nhiều người thuộc nhất, trong tất cả các thi phẩm cổ điển nước nhà.
Đến với tập thơ Nắng trên đồi (NXB Đà Nẵng, 2011) của tác giả Nguyễn Nho Khiêm, khi gấp lại trang cuối của tập thơ rồi nhìn lại nhan đề, bạn đọc không khỏi ngạc nhiên: 69 bài thơ không có bài nào mang cái tên được dùng để đặt tên cho cả tập thơ như lệ thường! Thơ anh cũng không nói nhiều về ánh nắng và về cả núi đồi.
Nhà thơ Nguyễn Bính (1918-1966) viết chữ thường thì cũng như mọi người, không có gì đặc biệt; nhưng viết chữ Hán và chữ quốc ngữ bằng bút lông mực tàu với khuôn khổ lớn, thì đúng như người xưa nói, thật “phượng múa rồng bay”. Tôi đã từng được xem không ít những bài thơ viết đẹp như thế.
Cho nên càng cố tình tra hỏi, càng đo (so đo, tính toán) thì lại càng lộ ra cái nghi tâm (tâm sai biệt, khác với bình thường tâm). Bởi thế, chỉ cần đếm sự vật tự nhiên nhi nhiên, thì chạm tới cái diệu tưởng. Với đôi dòng “lý lịch trích ngang” này, Bùi Giáng không chỉ “giễu nhại” Nguyễn Du (hoặc đùa cho bớt vẻ nghiêm trọng), mà chủ tâm muốn lưu ý người đọc đến bản chất con người ông, một người hoang sơ mà hiện đại, điên mà tỉnh, ngây thơ mà thấu thị.
Hình ảnh bông hoa được sử dụng thêm một lần nữa nhưng ở mức độ cao hơn, khốc liệt hơn - Rằng, một đóa hoa thơm cũng mang nỗi khổ hạnh khi trái tim tình yêu người bị đớn đau.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.