Khác với hướng tiếp cận phê bình văn học, bài viết này đi theo một hướng mới - nghiên cứu văn hóa trong văn học, nhằm lí giải một vấn đề: Nguyễn Tuân đã dựa trên hệ giá trị văn hóa nào để sáng tác Chùa Đàn? Việc tác giả vội vàng phủ nhận nó để cho ra đời một tác phẩm khác phản ánh ý nghĩa gì về thời đại văn hóa và nhu cầu văn hóa?
Trong những người bạn văn thơ tôi quen ngày đó, thì thấy Vũ là người rất Hà Nội. Anh có mái tóc đen mượt, nụ cười mỉm, ánh mắt xa xăm và mơ mộng. Vũ ít nói. Nhưng nói rất có duyên. Phải thừa nhận, khi tập thơ "Hương cây - Bếp lửa" của Lưu Quang Vũ và Bằng Việt ra mắt bạn đọc, năm 1966, thì không khí văn chương của cánh trẻ tại Hà Nội xôn xao hẳn lên.
Duy tân là nhu cầu thực tế, là diễn biến chính trị - xã hội quan trọng nhất cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX ở các quốc gia châu Á. Hiện đại hóa tất yếu phải đi qua cầu duy tân. Trong quá trình duy tân, có ba động thái đồng thời diễn ra ở nội vùng Đông Á. Thứ nhất: giải cấu trúc truyền thống; thứ hai: giải trung tâm Trung Hoa; thứ ba: thích ứng phương Tây. Từ ba động thái này, chúng tôi hi vọng sẽ gợi lên những kinh nghiệm về quá trình duy tân trong bối cảnh Việt Nam đương đại.
Xin nói ngay từ đầu: tôi không phải là bạn của Lưu Quang Vũ mặc dù tôi quen biết khá nhiều người thân và bạn bè của Vũ. Những điều được tạm gọi là hồi ức (xen lẫn những nhận xét hồi cố) nêu ra sau đây, chỉ là ghi lại những cảm nhận của một người trong cùng thế hệ Lưu Quang Vũ về một số luận bàn đương thời xung quanh con người và tác phẩm của tác giả này.
Trong 43 năm qua, chúng ta đã gặt hái được một số thành tựu nhất định mà ai có quan tâm tới sinh hoạt Văn học cũng đều nhìn thấy. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không thỏa mãn với những thành quả đã có, mà luôn hy vọng và tin tưởng vào những tác phẩm vững vàng hơn, giá trị cao hơn, để đáp ứng nhiều hơn cho sự phát triển chung của quê nhà và của văn học cả nước.
Tôi đưa một câu nói giống như khẩu hiệu này làm tựa đề cho cả bài phát biểu hôm nay về Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh, không phải vì muốn thi vị hóa hai người, cũng không phải đã đến tuổi này rồi thì cứ thích quay trở lại cái tuổi “cưa sừng làm nghé” để lạm phát những từ ngữ hoa mỹ sáo rỗng vô bổ.
Trong bản chất sáng tạo của con người tài hoa son trẻ Lưu Quang Vũ, Thơ là hồn cốt thâm hậu, chứ không phải kịch nghệ, báo chí, văn xuôi hay hội hoạ, những mảnh đất mà chàng từng thử nghiệm, gieo trồng và gặt hái.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.