Nếu có chút hiểu biết về Liên Xô ta sẽ thấy, nói như thế là không thực sự cầu thị. Bởi vì nền lí luận văn học của Liên Xô chưa bao giờ là hiện tượng thuần nhất. Ở Liên Xô, giai đoạn nào cũng vậy, bên cạnh hệ thống lí luận văn học chính thống, còn có rất nhiều hệ thống lí thuyết phi chính thống. Mà những thứ phi chính thống này đều là “vàng mười”, chứ nào có phải là “thau” đâu!
Sinh năm 1984, là giáo viên văn THPT ở tận vùng Đồng Tháp, cô giáo Cẩm Nhung đang vươn lên bằng chính năng lực của mình qua những cảm nhận văn chương. Hiện cô đang là học viên Cao học của Đại học Huế. "Mùa xuân chín" qua cảm nhận của Nhung ta nhận ra những nét mới mẻ trong phép đối sánh liên tục. Viết tiểu luận mà giữ được cảm xúc và thể hiện bằng giọng văn tươi tắn của một ngòi bút trẻ là điều đáng quý ở Nhung. Bichkhe.org xin giới thiệu bài viết này cùng bạn đọc trong và ngoài nước (Mai Bá Ấn).
Văn trẻ hôm nay tuy cũng có những cái để đọc, những điều để nghĩ, nhưng có lẽ người ta chỉ nghĩ đến khía cạnh quẫy đạp về suy tư, phóng túng quá mức, theo kiểu bặm trợn, huỵch toẹt trong ngôn ngữ và cách diễn đạt. Nhìn từ một khía cạnh nào đó, không ít người cho rằng văn trẻ đang cố gắng thể hiện mình như là đối trọng của giai đoạn văn chương trước đó, chứ ít ai nghĩ đến các giá trị thực của bản thân văn chương thế hệ 8x - 9x. Cùng lắm văn trẻ trong quãng 10 năm trở lại đây chỉ là sự trưng diện một tấm áo mới, còn hồn cốt của người mặc áo chưa có đổi thay là bao. Họ chưa hề có gì đáng để công chúng cần phải suy tư về giá trị thực của cuộc sống và con người. Một số người có ý định bứt phá nhưng xem ra bút lực hãy còn non nớt nên chỉ có thể sản sinh ra những bán thành phẩm văn chương, thậm chí là sinh ra những quái thai văn chương mà không ít người ngộ nhận rằng đấy là những tác phẩm văn chương đích thực, có giá trị. Một trong những quái thai văn chương ấy là những cuốn sách mà các cụ nhà ta ngày xưa gọi là "dâm thư" được sản xuất vô tội vạ.
“Bây giờ có vịtrong túi lúc nào cũng chất năm bẩy thẻ hội viên các hội, văn thơ nhạc họa sân khấu, thậm chí cả Hội văn nghệ dân gian, hội cây cảnh cũng có tên luôn. Di dỉ dì di cái gì cũng có, nhưng rốt cuộc là thế nào? Chả thế nào cả. Chả sao cả. Nghệ thuật có người bảo tôi làm chơi, lại có người bảo phải "múc óc" , "moi tim” ra để trên bàn viếtmới có. Cũng chả sao cả. Cái gì hay thì chả ai cấm được mà cái gì dở thì...tự nó biến.”
Rất nhiều người Việt Nam, dù ở nơi đâu, trong những ngày này, đều hướng lòng mình về Hà Nội. Với bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, nhớ tới mảnh đất ngàn năm văn hiến "phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu" là ông lại nhớ đến một người. Người ấy khá đặc biệt đối với riêng ông và cũng không xa lạ với mọi người, đó là học giả nổi tiếng Nguyễn Hiến Lê. Qua những câu chuyện kể, những bức thư trao đổi giữa vị học giả này và tác giả- được sắp xếp một cách khéo léo- người đọc nhận ra ẩn sau những con chữ ấy là nỗi lòng của một người con Hà Nội, dù phải cách xa mảnh đất thiêng liêng ấy suốt nửa thế kỷ, nhưng lòng vẫn canh cánh khôn nguôi...
LGT: Bị bạo bệnh, nằm một chỗ và trở thành nhà thơ Việt Nam ít đi nhất nước, Nguyễn Ngọc Hưng vẫn đau đáu về đời, về người, về thơ. Cơ hồ mỗi chuyển động của đất trời, của dân tộc đều được Hưng thẩm thấu, thu nhận vào sâu thẳm tâm hồn để rồi... một phút, một giây đột phá thành thơ.
Kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, Hưng hướng về Thủ đô với tất cả niềm trân trọng của mình. Trong đời Hưng chỉ duy nhất một lần được về Hà Nội, được cận vệ Lăng Bác khiêng vào viếng Bác nhân lần Hưng đi nhận Giải thưởng thơ những người tàn tật thế giới tổ chức tại Hà Nội. Vâng, chỉ có một lần duy nhất, vậy mà Hà Nội thấm đẫm trong thơ Hưng với tất cả suốt chiều dài nghìn năm của dân tộc.
Bickhe.org xin giới thiệu chùm thơ chào mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long Hà Nội với chủ đề "HÀ NỘI TÔI VỀ, EM ĐI ĐÂU?" của Nguyễn Ngọc Hưng (Mai Bá Ấn)
Hương Trà (Trần Anh Dũng), chàng Thạc sĩ Toán mang tâm hồn thi sĩ. Cái anh chàng Quảng Nam hiền lành này té ra cũng khá đa mang và nhiều trăn trở. Nhưng nhìn chung, thơ Hương Trà hiền hậu và hồn nhiên giống như chính con người anh vậy. Không triết lý cao siêu hay dài dòng lý sự, cũng không làm dáng ngôn từ để được gọi là “hiện đại”, thơ Hương Trà tuôn ra từ chính lòng mình một cách tự nhiên.
Thế hệ chúng tôi đến với lục bát với câu hỏi lớn “làm sao khác với Nguyễn Du, làm sao khác với Nguyễn Bính, làm sao khác với Huy Cận?” Lục bát Du Tử Lê, như “Chuyết Kinh Thi,” Như “Đêm, Nhớ Trăng Saigòn,” Như “Cõi Tôi,” như những bài lục bát ở Úc Châu làm thành một lục bát khác. Một lục bát Du Tử Lê. Một lục bát khác Huy Cận. Một lục bát vượt Huy Cận. Vượt không có nghĩa là hơn. Thơ không có so sánh. Không có hơn kém. Vượt là khác. Là đẩy thơ đi tới. Là làm thơ thành thơ.
Căn bệnh trầm cảm của Nguyễn Hoàng Sơn là bởi những suy nghĩ về người anh ruột mất đột ngột sau ngày về hưu được nửa năm. Trong khi bố mẹ của ông đã ngót bách niên giai lão vẫn còn sống khỏe. Điều khiến Nguyễn Hoàng Sơn áy náy là trước ngày mất dăm hôm, người anh cả ấy có đến chơi nhà ông và trong câu chuyện anh em có sự bất hòa, người anh nói: “Tao sẽ không bao giờ đến cái nhà này nữa!”. Câu nói định mệnh đó cũng là lời chào vĩnh biệt của người anh. Câu nói ám ảnh Nguyễn Hoàng Sơn đến nỗi, sau sự ra đi của người anh, ông đã bị một cú sốc tinh thần rất lớn, ông đã phải bán đi chiếc xe ô tô vì không đủ sức khỏe để cầm lái. Ông cũng ít nói hơn, những câu chuyện thưa dần ngay cả với vợ con, với các cháu. Ông lặng lẽ đóng phòng văn để đọc lại những tác phẩm kinh điển một thời của văn học Việt Nam như “Bỉ vỏ”, “Những ngày thơ ấu”…
Với nhà văn Đặng Thai Mai thì lại khác. Thời kỳ Mặt trận Dân chủ cuối những năm 1930, khi cha tôi đến với phong trào Truyền bá quốc ngữ, bắt đầu bằng việc uốn nắn cho những người thất học tập viết chữ i chữ t, thì nhà văn Đặng Thai Mai chính là một trong những người sáng lập ra phong trào này; khi cha tôi mới kiếm được chân thư ký sở Đoan (sở thuế quan) của chính quyền bảo hộ, còn đang lo lập thân, tìm con đường đi cho mình, thì ông Đặng Thai Mai là người được Đảng Cộng sản giới thiệu tranh cử vào Viện Dân biểu Trung Kỳ... Nhưng chính sự cách biệt về danh phận mới là điều đáng nói. Khi ấy ông Đặng Thai Mai đã là người có uy tín lớn trong xã hội, là một cây bút có tên tuổi, một học giả uyên thâm, vị giáo sư đáng kính của trường Thăng Long được quốc dân trông cậy. Còn cha tôi mới đang âm thầm đến với văn chương, thậm chí còn chưa có sách ở đời. Những bài tiểu luận, những tiểu thuyết lịch sử ông đăng dài kỳ trên Tri Tân, thực ra mới chỉ được biết đến trong giới khảo cứu hơn là văn chương.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.