Đó là câu hỏi cần đặt ra sau khi có các thông tin của nhà thơ Thanh Quế công bố trên báo Công an Nhân dân ngày 17.05.2010 ( bài “Nhật ký chiến tranh” được bảo quản như thế nào ?”) và trên báo Văn Nghệ ngày 11.12.2010 ( bài “Về tập sách “Nhật ký chiến tranh” của Chu Cẩm Phong”) mà gần đây tôi mới được đọc.
Vào năm 1972-“Mùa hè đỏ lửa”- tôi may mắn được hành quân qua Ấp Bắc-một địa danh tôi đã thuộc lòng từ trong sử sách, bấy giờ mới tận mắt chứng kiến, được tận mặt cảm nhận. Hoá ra, Ấp Bắc cũng chẳng có gì khác hàng trăm ấp quê Nam Bộ mà tôi đã đi qua. Nhưng đó là Ấp Bắc. Và tôi viết được bài thơ nhỏ này.
Mấy năm gần đây, hai nhà văn già Trang Thế Hy – Nguyên Ngọc thường hò hẹn mỗi năm có một ngày ngồi với nhau để uống ly rượu hội ngộ. Năm nay, một ngày hè, con đường đất vào nhà ông Trang Thế Hy hoa mua tím như dày hơn. Cuộc gặp gỡ giữa hai nhà văn già chỉ xoay quanh chuyện - tình - yêu - văn - chương - chữ - nghĩa. Câu chuyện của họ trở nên hào hứng khi cả hai đều “ham” một người, người đó là cô gái trẻ: Nguyễn Ngọc Tư
Trở lên là nói chuyện thơ ca và bia bây giờ xin nói chuyện thơ ca và rượu. Từ đầu thập niên 30 của thế kỷ trước – khi phong trào thơ mới bột phát các nhà phê bình và các nhà thơ thường sử dụng các từ “bình”- “rượu”- “cũ”- “mới” để chỉ hình thức thơ- nội dung cảm hứng thơ – truyền thống cổ điển – hiện đại. Đang nói chuyện thơ ngày nay (mới) nên xin phép không nhắc đến từ “cũ” nữa mà chỉ vận dụng 2 cụm từ “bình mới” – “rượu mới” để chỉ thơ VN ngày nay.
Bến Tre vẫn thế, với ông lão nhà văn Trang Thế Hy ngày một già yếu mặc quần xà lỏn ngồi giữa sân lúi húi với mớ dây ống nước bằng nhựa. Ông lão là một thứ đặc sản của Bến Tre, giống như kẹo dừa bà Hai Tỏ. Bến Tre vẫn thế, trong tôi, khi tôi nhận từ lão nhà văn Trang Thế Hy tập thơ mỏng in song ngữ Việt-Anh. Bài thơ này bắt đầu từ tập thơ ấy và tác giả của nó.
Sau ngày Hội Nhà văn Việt Nam trao giải cuộc thi tiểu thuyết (2006-2009), nhà văn Hoàng Minh Tường đã công bố trên trang trannhuong.com một bài viết vui vẻ, trong đó có nhắc đến tôi. Trước hết, xin cảm ơn nhà văn Hoàng Minh Tường quá ưu ái cuốn tiểu thuyết “Biết đâu địa ngục thiên đường” của tôi nên đã “phóng” từ giải C (nữ sĩ Y Ban thì gọi là giải “Cờ”!) thành hạng “Thám Hoa” (tức là sau Trạng Nguyên và Bảng Nhãn).
Hàn Mạc Tử, một con người tài hoa, một thanh niên Việt Nam đang trong lứa tuổi tràn đầy sung mãn về sinh lực, công danh, sự nghiệp và tình yêu, đã mau mắn lắng nghe lời mời gọi của Thiên Chúa trước nghịch cảnh của cuộc đời và sẵn sàng bẻ quặt đời mình theo một lộ trình mới. Một con đường mà chàng đã xác tín đó là lộ trình mà Thiên Chúa mời gọi và cùng đồng hành với chàng, niềm xác tín này được thể hiện rất rõ rệt trong các tuyển tập thơ mà chàng đã để lại.
Bùi Giáng chỉ có thể đến nương náu nơi cửa chùa, vì Ðức Phật chẳng những không cấm đoán mà còn khuyến khích cái quyền ngờ vực chân lý có sẵn. Thơ Bùi Giáng bay lượn giữa thực và ảo, nghiêm chỉnh và bông đùa, phóng túng và cổ điển nhờ ông tận hưởng được cái quyền tự do tìm kiếm chân lý và chọn kiểu sống theo ý mình. Ngược lại, thơ Hàn Mặc Tử có giá trị trường cửu nhờ Ðức Tin nhiệt thành của ông. Hai con đường vào thơ cũng là hai cách chọn chỗ an trú. Hai cách chọn khởi điểm để sống trọn đời mình: biết ngờ, và biết tin.
Trong cuốn “The importance of Living” của Lâm Ngữ Đường có nhắc lại về 33 lúc khoái của Kim Thánh Thán, đây cũng là bài tản văn nổi tiếng suốt kim cổ của Trung Quốc, được ghi chung trong bài phê bình tuồng Tây Sương kí. 33 đoạn văn nhỏ này cho thấy triết lý sống duy khoái của Kim Thánh Thán. Ông khám phá cho chúng ta thấy rằng trong cuộc sống này có thể tìm thấy những lúc khoái qua những chuyện thật đơn giản.
Nếu so sánh với các hình tượng văn học trước đó, Chí Phèo không giống các tướng lĩnh, các hiệp sĩ, các anh hùng hảo hán theo kiểu Lục Vân Tiên hay Từ Hải trong văn học cổ; các nho sĩ, thư sinh trong truyện nôm khuyết danh; hay các cậu ấm cô chiêu trong dòng văn học lãng mạn những năm đầu thế kỷ. Tất cả các hình tượng trên là sự minh họa cho những mẫu người sống theo những tôn chỉ chính trị và đạo đức nho giáo. Hay nói đúng hơn họ là những phương tiện để chở cái đạo theo quan niệm của nhà nho. Trong văn học đương đại Chí Phèo càng xa lạ với hình tượng những người cán bộ kháng chiến, cán bộ phong trào trong Tầm nhìn xa, Hãy đi xa hơn nữa... Những người chiến sĩ năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt; máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn... Chí Phèo cũng không sống như một Dáng đứng Việt Nam, mà chỉ là một con người lừng lững đi giữa cuộc đời, không mong cầu, không oán trách, luôn luôn say mềm trong cái bản ngã vô can của chính mình.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.