Hành trình của cụ Huỳnh và tờ Tiếng Dân là chương rực rỡ trong lịch sử công nghiệp văn hóa Việt Nam – nơi “hồn cốt” của xứ sở được chuyển tải một cách khoa học và tâm huyết vào những trang giấy…
Có thể nói, không nặng lí luận mà chỉ bằng thực hành, thơ chính là nơi để nhà thơ bộc lộ quan niệm thơ của mình một cách dân chủ, tự nhiên, cụ thể và đầy hình tượng. So với những quan niệm thơ cùng thời lúc này ở miền Bắc vốn chịu sự chi phối của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, quan niệm thơ của thơ ca miền Nam có “độ mở” hơn, nhất là về bản chất, cội nguồn cũng như quan điểm cách tân.
Việt Nam có nhiều tướng tài, vua giỏi trong thời phong kiến. Nhưng người duy nhất được đánh giá sở hữu sức mạnh ngang với Hạng Vũ của Trung Quốc chỉ có một người.
Việc Nhà xuất bản Kim Đồng tái giới thiệu bộ sách “Nhà văn hiện đại” của Vũ Ngọc Phan không chỉ là một sự kiện xuất bản đáng chú ý, mà còn mở ra cơ hội để độc giả hôm nay tiếp cận một trong những công trình phê bình văn học quan trọng nhất của Việt Nam thế kỷ XX.
Lương Thế Vinh là một Trạng nguyên nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, ông không chỉ giỏi văn chương, thơ phú mà đặc biệt có tài tính toán. Chính bởi tài năng khác thường, vượt trội ấy mà cuộc đời của Lương Thế Vinh có nhiều giai thoại lạ kỳ, trong đó có chuyện đầu thai…
Một trong những người đó là nhà thơ Nguyễn Đức Mậu” – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều bày tỏ như vậy khi biết tin nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đột ngột qua đời sáng 8.4, hưởng thọ 79 tuổi.
“Chú Vũ Khoan kể: Vợ Việt Phương, cô Tú Lan, tổng kết cuộc đời chồng rất tài tình: người mà anh làm việc lâu nhất là anh Tô, người mà hay hỏi và hay nghe anh nhất là anh Tư Trinh (Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao), người thương anh nhất là anh Ba”… Xin trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả Lê Kiên Thành về một trong những nhà thơ lớn và độc đáo của nền thi ca Việt Nam hiện đại với những câu chuyện thú vị…
Năm 2012 trong một lần đánh bắt hải sản, một ngư dân xóm Gành Cả (thôn Châu Thuận Biển) đã nhặt được những chiếc dĩa và chiếc chén sứ đầu tiên có hoa văn cổ, ông xác định được khả năng sâu dưới lòng cát vẫn còn rất nhiều cổ vật chưa được lấy lên.
Thi sĩ Phạm Thiên Thư qua đời vào chiều ngày 7.5.2026 trong sự nuối tiếc của người thân, bạn bè. Trên mạng xã hội tưởng nhớ ông, xuất hiện vài đoạn clip quay lại cảnh sinh hoạt văn nghệ, khuôn mặt ông gần như “trả nhớ về không”. Bạn bè ông hát lại những giai điệu quen thuộc mà Phạm Duy phổ thơ ông:’’ Ngày xưa Hoàng thị’’, ‘’Đưa em tìm động hoa vàng’’, ‘’Gọi em là đóa hoa sầu’’…Người hát cầm tay ông như muốn khơi dậy “thân thức” trong ông, gợi lại chủ đề của Đạo ca 6: Lời ru, bú mớm, nâng niu – nhân sinh không còn là tù ngục với con người…”.
Nghĩ mà thương cho các nhà phê bình: Quanh năm tra cứu văn bản, suốt đời cặm cụi, suốt đời đeo bám sáng tác. G.Maupassant (1850-1893) cho rằng: “Người sáng tác là người tự do, người phê bình là một nô lệ.”
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.