Trò chơi, theo đó, không đơn thuần là một hoạt động cơ bản của con người, nó xuyên thấm vào tất cả các hoạt động khác, trở thành nguyên mẫu của các mô hình tổ chức đời sống, các hình thái ý thức, đi vào trong tư duy của con người như một hệ hình để suy nghĩ, nhận thức về thế giới và về chính mình.
Nếu nhà thơ Xuân Sách còn sống, tôi sẽ hỏi sao trong nhóm các nhà văn Nhân Văn Giai phẩm ông “vẽ chân dung” Trần Dần , Hoàng Cầm, Phùng Quán mà không vẽ Lê Đạt, vốn ăn đòn với “Bài thơ ghế đá” “đem bục công an đặt giữa tim người “, Phùng Cung, người viết phản kháng mạnh nhất trong cả nhóm.
Cách đây cũng khá lâu rồi, có phóng viên hỏi tôi: Việt Nam có cần ngày Mồng Một Tháng Tư không? Tôi nói vui rằng, ngày Mồng Một Tháng Tư là ngày nói dối. Suốt bảy năm sống ở nước ngoài, ngày ấy năm nào tôi cũng bị lừa, dù mình đã có ý thức đề phòng mà vẫn không thể tránh nổi. Ta chả nên “nhập khẩu” ngày nói dối làm gì. Nếu ta có ngày Mồng Một Tháng Tư thì cũng nên chuyển thành ngày Nói Thật. Làm sao ngày ấy, chúng ta có thể trải lòng mình mà không bị bạn bè dị nghị. Đối với tôi, ngày Mồng Một Tháng Tư là ngày đau buồn. Đau buồn một cách nghiêm túc. Vì đó là ngày mất của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Thơ Nguyễn Quang Thiều hiện vẫn đứng giữa hai luồng khen - chê dữ dội. Nguyễn Quang Thiều biết rất rõ điều này. Có thể xem hai câu sau đây (trong bài “Nhà thơ - 2”) là một thông điệp nghệ thuật thể hiện sự “biết mình biết người” của anh
Dương Kiều Minh thuộc thế hệ các nhà thơ xuất hiện sau thời kỳ đổi mới mới cùng với: Nguyễn Quang Thiều, Trương Nam Hương... Từ công trình thủy điện Sông Đà anh về Hà Nội học trường viết văn Nguyễn Du và được coi là một trong những nhà thơ trẻ có sự cách tân mới mẻ, mới về giọng điệu: Một giọng thơ thâm trầm nhiều nghĩ ngợi, nội cảm mạnh và nới rộng biên độ cảm xúc ra nhiều chiều, có day dứt, có thân phận, có những khoảng trống gợi mở. Một giọng thơ khó lẫn với người khác. Tôi có đọc Dương Kiều Minh như được chiêm nghiệm một thế giới tâm linh ảo ảnh mà ám ảnh, không rậm rạp trong khu vườn ngôn ngữ ấn tượng như Nguyễn Quang Thiều; không tài hoa bay bổng như Trương Nam Hương. Dương Kiều Minh là một thứ "Củi lửa", hòn than ấy có độ ấm nóng của cuộc đời, có độ phát sáng âm ỉ của tâm trạng, không sáng chói nhưng sức lan tỏa của nó thổn thức và bền bỉ.
Tôi rất thích câu của Đặng Tiến trong Vũ trụ thơ khi viết về Nguyễn Du như sau : Nghệ thuật là những gì còn lại khi định mệnh bị bôi xóa. Quả đúng như vậy, điều làm nên sự bất tử của người nghệ sĩ là những gì họ để lại cho đời, cho dù để tạo nên những kiệt tác không chỉ bằng trí tuệ, tài năng, cảm xúc mà còn có cả máu, nước mắt và biết bao hệ lụy của một cuộc đời. Hữu Loan và bài thơ Màu tím hoa sim là một hiện tượng như thế.
Sống thật lòng, yêu thật lòng, nhạc cũng thật lòng. Đó là Trịnh Công Sơn. Oái oăm, những người lạ lại thường gặp số phận lạ. Ông mất đúng vào Ngày nói dối (01/04/2001). Độc giả yêu Sơn cho đó là Ngày nói dối huyền thoại dành cho một thiên tài âm nhạc. Hàng năm cứ đến ngày ấy, những người quen biết Sơn lại hay nhắc đến tên của người nghệ sỹ này như một chỉ dấu kỷ niệm. Một bàn trà nhỏ có nhạc sỹ Hồng Đăng – người được biết đến với Hoa sữa, nhạc sỹ Văn Dung với Những bông hoa trong vườn Bác, nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo với Khúc hát sông quê và nhà thơ Mai Linh, người rất mê nhạc Trịnh cùng trò chuyện về những kỷ niệm thật với Trịnh.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.