Văn đàn Việt Nam năm 2010 còn nóng lên bởi tiểu thuyết Kín của Nguyễn Đình Tú. Tác giả viết về một nhóm người trẻ trung, sống và làm việc trong thời đại kinh tế thị trường với những va đập về quan niệm sống.
Trong bài viết ngắn này chúng tôi xin sơ lược một số vấn đề về thi pháp học và những điểm độc đáo của nó mong giúp bạn đọc có cái nhìn khái quát nhất cũng như làm cơ sở để tiếp nhận văn học mang tính khoa học, lý thú hơn – Thi pháp học hiện đại.
Trong “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều có hình ảnh con người khủng hoảng niềm tin một cách sâu sắc. Sự khủng hoảng niềm tin ấy có lẽ đã trở thành nét tâm lý chung thuộc về thời đại - thời đại mà Nguyễn Gia Thiều sống và sáng tác.
Văn Thùy rất tự biết về sở trường cùng cái thân thế lục bát của riêng mình, khi kiêu bạc tuyên ngôn: Kệ thơ son phấn cấp cao / Ta hong mấy mẹt ca dao ruột vàng / Mặc người chữ nghĩa xênh xang / Ta khênh lục bát giữa làng đọc chơi. Hoặc: Dứt phăng sợi chữ tân thời / Xe thành lục bát nối lời ru xưa. Hoặc: Nhịp hành khúc của người ta / Mình gam La thứ mình ca giọng mình / Thơ người bác học cung đình / Chữ mình tấm cám thì mình ca dao.
Vì vậy, phong tục, tập quán, tiếng nói… giữa Quảng Ngãi và Bình Định có những khác biệt trong khi Quảng Nam và Quảng Ngãi lại rất giống nhau, đặc biệt là vùng Nam Quảng Nam và Bắc Quảng Ngãi. Ở huyện Núi Thành (Quảng Nam) giáp với Bình Sơn (Quảng Ngãi), tiếng nói người dân ở đây chia ra làm hai khu vực chính: từ đường ray xe lửa trở lên phía núi thì không hề nói: ta, mi, mô, tê, răng, rứa, chừ… mà giọng nói rất giống với người Kinh miền Tây Quảng Ngãi, đặc biệt là giống tiếng Mộ Đức, Đức Phổ.
Frederic Chopin đang trong giai đoạn sức tàn lực kiệt. Điều này thì bất kỳ ai bước chân qua cửa phòng ngủ của thiên tài âm nhạc người Ba Lan này đều thấy rõ. Cho tới những ngày sau cuối của cuộc đời mình, Chopin vẫn không được yên tĩnh. Quá nhiều người ra kẻ vào nơi anh nằm đợi chết. Họ nói với nhau rất thì thào nhưng vẫn tạo nên sự ồn ã. Chỉ những khi Chopin ho xé gan xé ruột đến thổ huyết thì những tiếng rì rầm mới tạm lắng xuống.
Chúng ta đã đi qua thời kỳ Thơ mới, từ đầu thời kỳ ấy cho đến nay, giữa nghệ thuật sáng tạo và nghệ thuật cảm thụ đã xác lập được mẫu số chung. Nói một cách khác, giữa người làm thơ và độc giả đã tìm thấy được sự đồng cảm sâu sắc. Với thơ hiện nay điều đó có lẽ còn xa lắm, bằng cách nào để nghệ thuật sáng tạo và nghệ thuật cảm thụ“xích lại gần nhau”? Bài viết này xin lấy thơ ra làm ví dụ, mong với đến một điều xa hơn nữa…
Các nhà lý luận phê bình của chúng ta ngoài hoạt động chuyên môn học thuật nên là con người sống trọn vẹn với thời của mình, hơn thế nữa, cần phải “canh cánh nỗi lo toan” cho số phận nền văn học của mình, nhân dân và dân tộc mình. Với nhiều người giờ đây đó không chỉ là những câu khẩu hiệu sáo mòn, mất hết sinh khí ngữ nghĩa, mà là những tâm sự chân thành, trải nghiệm và khắc khoải. Bài viết của dịch giả nổi tiếng, TSKH Phan Hồng Giang sau đây có thể coi là một minh chứng, ông nói với các nhà văn, cũng là với tất cả chúng ta. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Ngay từ năm 1972, Hoàng Trần Cương đã nhận được giải thưởng cao của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, không phải tác phẩm thơ mà là văn xuôi: Ký sự Hạnh phúc hôm nay(in năm 1971). Cùng năm ấy, Nhà xuất bản Lao động xuất bản tập truyện ngắn Dư âm (in năm 1976) của Hoàng Trần Cương. Văn xuôi của Hoàng Trần Cương hồi chiến tranh nhiều chi tiết chắt lọc, lạ lẫm, được thốt lên từ một giọng khá điềm tĩnh chứ không hồi hộp quá như thơ anh sau này.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.