Trong cuốn Thi pháp thơ Tố Hữu viết năm 1985, xuất bản năm 1987, tôi có nhận xét rằng: Xét về sức tác động trực tiếp đối với công chúng thì thơ Tố Hữu có thể sánh với bất cứ hiện tượng thơ kiệt xuất nào trên thế giới. Đó là một sự thực mà không ai có thể phủ nhận khi chứng kiến sức thu hút của thơ Tố Hữu trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ.
Trong thời đoạn Thơ mới, những sáng tác của Xuân Diệu và Huy Cận cho chúng ta thấy ít nhiều sự khác biệt trong hình thức nghệ thuật của họ. Một cái nhìn tổng quan về thể thơ, cú pháp và từ ngữ có thể cho thấy ý hướng lựa chọn của mỗi tác giả.
Baudelaire đã nói câu bất hủ sau :“ Một người tử tế có thể có thể bỏ qua việc ăn uống trong hai ngày, nhưng không thể không đọc thơ trong hai ngày”. Thế nhưng giờ đây thời kỳ vàng son rực rỡ của thơ ca dường như đã là chuyện của quá khứ, các nhà thơ bị coi như những kẻ lạc lõng với thời cuộc, nhiều người nghĩ rằng thơ ca là một loại “sản phẩm bí hiểm”, phải có một kiến thức hay một năng khiếu đặc biệt mới có khả năng viết ra hay thưởng thức nó... Câu hỏi như một vấn nạn muôn thủa : Thơ là gì và Thơ cần cho ai ?
Nền văn học Việt Nam 1945 – 1975 là một nền văn học sử thi. Cảm hứng anh hùng ca (sử thi) xuất hiện trong hầu hết các sáng tác văn xuôi thuộc giai đoạn này. Nhưng có lẽ, tác phẩm thể hiện đầy đủ nhất và sinh động nhất tính chất sử thi của nền văn xuôi cách mạng là truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyên Ngọc.
Trong quan hệ với một số nhà văn nước ngoài, Nguyễn Tuân được nể trọng. Nguyễn Tuân đã từng giao thiệp với Erenburg (Nga), Simonov (Nga). Nhà văn Tkachev dịch nhiều của Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân cũng có nhiều bức thư trao đổi với Tkachev. Ông hiểu văn hóa phương Tây nên thường tế nhị trong giao tiếp...
Ở Quy Nhơn vào một buổi chiều, tại căn nhà mái tôn đầu thị trấn An Nhơn, nơi vút lên Thành Đồ Bàn xa cũ, Văn Cao đã gặp lại Yến Lan sau bao năm cách vắng. Có thể nói là từ sau khi viết lời tựa cho tập thơ “Những ngọn đèn” của Yến Lan và sau thời kỳ “Nhân văn – Giai phẩm”, hầu như Văn Cao đã không gặp lại Yến Lan nữa. Ngồi bên bức sơn dầu của Quang Dũng, hai người bạn thơ hàn huyên không ngớt.
Có lẽ bởi cảm quan âm nhạc Nguyễn Khoa Điềm thường đưa vào rung động thơ nên bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” đã được nhạc sĩ Trần Hoàn – người đàn anh ở chiến khu Trị – Thiên, phổ nhạc rất thành công khi chọn ra những đoạn ru.
Mang tiếng là đại tá ăn lương tướng về hưu và cũng đã ở độ tuổi sắp sửa “cổ lai hy” rồi, ở giai đoạn hiện nay, nhà văn cựu chiến binh Chu Lai vẫn tiếp tục nhịp sống đầy bận bịu của mình. Đến một kẻ vốn tham công tiếc việc như tôi mà khi gặp anh, tận mục sở thị cường độ làm việc của anh, lắm lúc lại chợt nhận ra rằng, mình vẫn là kẻ ham chơi…
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.