Năm 2008, nhà văn Hoàng Thái Sơn ở Quảng Bình cũng đã có bài viết “Về một bài thơ của Phùng Quán” đăng ở Tạp chí Thơ số 3 ( 2008) và đăng lại trong Tạp chí Nhật Lệ số 160 ( tháng 7 – 2008) . Nhà văn Hoàng Thái Sơn cho rằng khi sáng tác bài thơ Hoa sen, Phùng Quán đã có “sự nhầm lẫn rất hồn nhiên” ,“một mình một ngựa quay lưng, ngược đường với triệu triệu đồng bào” yêu quý bài ca dao.
Là con một nhà báo, Henri Barbusse (1873-1935) học văn rồi viết báo. Ngay sau khi tốt nghiệp trung học, ông giao du với giới văn nghệ thuộc phái tượng trưng và làm thơ tượng trưng. Năm 1903, ông xuất bản cuốn tiểu thuyết “Những kẻ van xin” (Lés Suppliants), và 5 năm sau là cuốn Địa ngục (L‘Enfer), câu chuyện xẩy ra từ đầu đến cuối trong một phòng khách, tố cáo sự vô luân của thành thị làm dư luận xôn xao – phong cách hiện thực rắn rỏi, mạnh dạn. Năm 1914, đã 40 tuổi ông tham gia Chiến tranh thế giới I. Từ binh nhì, ông được phong trung úy. Năm 1916, giữa cuộc chiến, ông cho ra đời tác phẩm “Khói lửa” (Le feu) cuốn sách mang lại cho ông giải thưởng Goncourt. Cuốn “Khói lửa” có phụ đề là “Nhật ký một tiểu đội” miêu tả tình cảnh thảm khốc ngoài mặt trận, trong chiến hào, miêu tả quá trình giác ngộ của người lính Pháp, dần dần thấy tính chất phi lý của chiến tranh, nói lên khát vọng hòa bình sâu sắc của nhà văn.
Là một trong những thi sĩ có số lượng thơ được phổ nhạc nhiều nhất, lên tới hơn 300 bài hát, thi sĩ Du Tử Lê không chỉ nổi tiếng với người Việt cả trong nước và hải ngoại, mà một số bản thơ tình của ông cũng được các nhà xuất bản Hoa Kỳ dịch thuật và sử dụng làm tài liệu giảng dạy trong một số trường đại học.
Truyện Kiều của Nguyễn Du chiếm địa vị cao nhất trong văn học nước ta. Kiều không chỉ phổ biến rộng trong giới bình dân mà cả ở hàng trí thức, quí tộc, vua chúa… vẫn thích. Tương truyền vua Tự Đức mê đọc Kiều đến nỗi sách mòn đứt chỉ khâu, phải đóng gáy lại đến 3 lần.
Nhà thơ Phạm Khải đánh giá: “Thơ Trúc Thông rất chú trọng tới mặt tạo hình. Trong cách thể hiện vẻ đẹp thiên nhiên, chữ nghĩa của anh cũng gọn ghẽ chứ không dềnh dang. Trong bài “Ngẫm dọc đường”, Trúc Thông viết: “Sao anh chẳng gần/ gió với cây xanh/ sao anh xa cách thế/ nạp sao lắm chữ/ cản đường/ gió/ với cây xanh”. Đúng là nhiều khi chữ nghĩa đan nối với nhau một cách lớp lang lại vô tình tạo nên rào cản giữa thiên nhiên với con người. Khi Trúc Thông viết: “trái đất mỉm cười mặt mình ngũ sắc/ cười rung….gió cây” (bài “Khúc trẻ thơ”), hoặc: “Trên cánh diều từ hạ sang thu/ con vượt nấc thời gian bao giờ không biết/ chỉ biết diều vẫn ru ru gió/ con vẫy từ cao tít/ tiếng con cười lấp lánh vào xa” (bài “Nhờ ở các con”), ta thấy việc tác giả khéo sắp xếp chữ nghĩa mà không phải sử dụng đến các liên từ đã giúp câu thơ trở nên tự nhiên, gần gũi và…tốc độ hơn nhiều”
Đi tìm và “ trả tên tác giả” cho những câu thơ ấy là trách nhiệm của những người viết “Văn học sử” hay những nhà lý luận phê bình, bài viết nhỏ này xin gom góp một số cơ sở, mong được chỉ giáo thêm…
Đơn sơ mà kỳ vĩ, bi ai mà hùng tráng, im lặng mà sấm sét, tĩnh toạ mà phiêu bồng. Đó là cõi thơ trầm thống, khốc quỷ kinh thần của Tuệ Sỹ, một thi sĩ dị thường, một tâm hồn cô liêu cùng tuyệt. Hồn thơ khốc liệt u ẩn, ngân dài trên giai điệu trầm tư tối thượng.
Cấu trúc song hành được hiển lộ trong ý hướng đặt cạnh bên nhau hình ảnh của Bác ("lăng Bác") và cây tre ("hàng tre bát ngát") cũng là cấu trúc cơ bản của bài thơ. Có thể nói, cả bài thơ đã được dệt nên bởi những cấu trúc song hành như thế.
Nhà văn Lê Minh Khuê vừa có chuyến đi Hàn Quốc 15 ngày dự Diễn đàn Văn học Á, Phi, Mỹ Latin tổ chức tại thành phố Incheon. Khi trở về cũng là lúc bà chuẩn bị nhận giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.
Tôi biết Phạm Ngọc Thái (PNT) từ thưở còn chiến tranh, cùng là anh lính chiến ăn rừng ngủ rú qua ba mặt trận Việt-Miên-Lào. Suốt chặng đường chinh chiến ấy Thái ham viết nhật ký và làm thơ! Nhiều đêm nằm với nhau bên võng giữa rừng, Thái vẫn thường hay đọc thơ cho chúng tôi nghe. Được biết những cuốn nhật ký đó đã bị mất trong chiến tranh, tác giả chỉ còn nhớ lại ít bài tản mạn, cũng là một điều đáng tiếc.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.