Nguyễn Trãi bị nhà Lê sơ kết án tử gần sáu thế kỷ trước (mùa thu năm 1442). Học giả Đào Duy Anh (trong Nguyễn Trãi toàn tập, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1976) cùng một số nhà nghiên cứu khác lý giải bi kịch đó bằng các sự kiện và suy luận lịch sử; kết luận chung: hoàn cảnh phong kiến (Feudal condition) đã đẩy ông đến cái chết oan khuất. Chúng tôi lý giải bi kịch vô tiền khoáng hậu ấy theo hướng khác: đi tìm căn nguyên nội giới.
Nếu bạn muốn tìm hiểu ngọn ngành về nhà văn Thái Bá Lợi, thì tôi khuyên bạn, hãy tìm đọc những truyện ngắn đầu tiên của ông: “Lòng cha”, “Vùng chân Hòn Tàu”, “Đội hành quyết”, rồi đến truyện vừa “Thung lũng thử thách”, lần lần, từng nấc một, như bạn đang leo thang, mỗi truyện ngắn của ông là một nấc thang khỏe khoắn, vững chắc, chỉn chu, đưa bạn lên tít trên đỉnh cao mà không thấy mệt, đấy là đỉnh cao “Hai người trở lại Trung đoàn”. Một đỉnh cao chói ngời, đỏ thắm của truyện ngắn Việt Nam thời hậu chiến.
Mấy năm nay, Hà Minh Đức in nhiều, thơ, bút ký rồi nghiên cứu. Riêng nghiên cứu, ông liên tiếp cho ra đời nhiều tác phẩm dày dặn về các đại thụ văn chương Việt Nam mà phần nhiều là các nhà thơ trong thời kỳ Thơ Mới hoặc ảnh hưởng nhiều từ Thơ Mới... Sau khi lần lượt in hết các tập này, theo đề nghị của Nhà xuất bản Thuận Hóa, ông lại cho in chúng thành một tập chung, lấy tên là "Một thế hệ vàng trong thơ Việt Nam hiện đại"...
Hồi tưởng tháng Giêng hay là những liên tưởng miên man dẫn dụ thi sỹ đến miền khai phá cảm xúc mới? Thế giới đó luôn mang trong mình những bất ngờ, bí ẩn, đầy hấp dẫn… Để “giải mật” được nó, cần phải có một trái tim nồng ấm và tâm hồn trong veo. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều dường như đã đến tận nơi đó, đã trở về và kể lại bằng những hồi tưởng…
Lý lịch nhà văn Nguyễn Quang Sáng, ghi: Ông sinh ra ở xã Mỹ Luông (nay là thị trấn), huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Thực ra, xã Mỹ Luông là quê ông, còn nơi ông cất tiếng khóc chào đời lại là cù lao Giêng - một cù lao nằm giữa các nhánh sông thuộc huyện Chợ Mới, đến nay muốn ra cù lao Giêng vẫn phải đi trên một con phà nhỏ.
Con người tưởng như xưa cũ ấy, người tưởng như lạc lõng giữa một trào lưu không gì cưỡng lại ấy lại tìm ra lối đi riêng cho mình để trở thành một trong những ngôi sao sáng nhất của cuộc cách tân thi ca giữa lòng thế kỷ 20 - Thi sỹ của đồng quê Nguyễn Bính.
Văn học chống Mĩ chứa đựng sự đa dạng về nhiều phương diện. Tuy nhiên, những mầm mống của một “thế nhân đa sự” trong mười năm sau giải phóng ở miền Bắc và đặc biệt là cá tính sáng tạo đã giúp các nhà văn có những bước đột phá.
Bài viết này chủ yếu giải quyết vấn đề về tác giả của nguyên tác Hán văn của bài ca Hồ trường hay Nam phương ca khúc mà ta thường gọi, là người Việt Nam, không phải của người Trung Quốc mà bấy lâu ta lầm tưởng.
Làng Quỳnh Đôi có nhiều xóm. Cùng với xóm Ao, xóm Đình, xóm Bà Cả, xóm Chợ Nồi, Bờ Rậm… còn có xóm Điếm. Gọi là xóm điếm vì xóm ở đầu làng, có cái điếm canh của làng. Xóm Điếm là xóm quê của bà Chúa Thơ Nôm - nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Cái tên Xóm Điếm từ bao lâu nay đã cùng con em mình đi khắp bốn phương trời. Và, địa danh này mới đây đã đứng tên cho một tập thơ của năm người con xóm mình. Đó là Thơ Xóm Điếm của Dương Huy, Văn Như Cương, Hồ Phi Phục, Dương Danh Dũng, Lam Giang.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.