Ông được biết đến với tư cách là một nhà văn thành công trên con đường quan lộ, với các chức vụ từng kinh qua như Ủy viên BCH Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Ủy viên Ban thư ký Hội Nhà báo Việt Nam, Ủy viên Đảng ủy khối dân vận Trung ương, Tổng Biên tập báo Lao động, Giám đốc NXB Lao động, mặc dù gia tài văn chương của ông tính đến nay cũng đã có tới hơn 30 đầu sách các loại...
Trường ca hôm nay có xu hướng khái quát những cái được, mất của lịch sử thông qua số phận con người, số phận nhân dân. Chân dung tinh thần của một thế hệ cầm súng hiện diện rõ qua thái độ lựa chọn và cống hiến. Từ cái cao cả, lớn lao của thời đại đến cái bình dị nhỏ bé của đời thường đều được thể hiện bằng cái nhìn chân thành, đầy đặn. Đời sống nội tâm của người chiến sĩ ở chiến trường với những điều thầm kín, những tâm tư, tình cảm cá nhân được bộc lộ hết sức chân thực, đời thường: Mẹ ơi con người ta nhỏ bé lắm/ ba tháng trên Trường Sơn mới được húp bát canh rau muống đã đời mẹ ơi/ nhu cầu thường đơn giản/ bây giờ thỉnh thoảng/ con nghĩ không biết mình thèm cái gì/ hạnh phúc có khi/ là được thèm nhiều thứ vớ vẩn (Metro - Thanh Thảo).
Trong bài viết vừa nói, tôi nghiêng về phía tin chắc rằng vợ của nhân vật Út Vũ, tức mẹ của Nương và Điền, thực sự là người đàn bà ham mê se sua quần áo, đã bán dâm cho tên chủ ghe vải để đổi lấy một khúc vải đỏ. Không tin chắc như vậy sao được, khi chính hai đứa con đã thấy tận mắt, và Nương, một trong hai đứa, đã kể lại...
"Sống đến lúc nào đấy ta sẽ thấy danh lợi nó vô nghĩa. Chuyện có tiền hay không đối với tôi bây giờ không quan trọng nữa, nhiều khi nhiều tiền mà mình không biết cách tiêu hay sử dụng nó, nó chỉ gây tại họa thôi", nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, chia sẻ.
Hiện tại, phê bình văn học của Việt Nam đang tồn tại ba kiểu phê bình: phê bình kiểu báo chí, phê bình kiểu văn nghệ sĩ và phê bình chuyên nghiệp (hàn lâm). Kiểu phê bình văn học báo chí và phê bình kiểu văn nghệ sĩ đang chiếm ưu thế về số lượng trên hầu hết các báo và tạp chí. Kiểu phê bình báo chí, người viết phê bình chủ yếu so sánh, đối chiếu và đánh giá về mức độ phản ánh hiện thực trong tác phẩm văn học so với hiện thực của đời sống xã hội. Kiểu phê bình nghệ sĩ, người viết phê bình chủ yếu khám phá cơ chế sáng tạo của nhà văn, nhà thơ và hiệu quả xã hội của tác phẩm văn học. Hai kiểu phê bình này thường đáp ứng nhu cầu tiêu dùng về mặt tinh thần của người đọc.
Một sáng trò chuyện đang tíu tít, bất chợt từ ngoài cửa bước vào một khách nam và một khách nữ. Nhận ra hai người, tôi vội ngồi thụp xuống chân cô tiếp tân, im thít. Lát sau, cô vỗ vỗ lên đầu tôi: “Khách lên phòng rồi…anh đứng dậy đi! Hổng sao, ông Nguyễn Quang Sáng đó …nghe nói ổng là nhà văn cách mạng”… Người Sài Gòn xưa là vậy, không tò mò chuyện người khác nên cũng không hỏi chị phụ nữ kia là ai? Nhưng tôi biết, đó là nữ văn sĩ quân đội nổi tiếng hồi đó. Đừng ai "suy diễn bậy bạ" nha. Chắc hai nhà văn lớn đưa nhau lên phòng riêng để bàn luận văn chương thôi. Tuy vậy có làm thêm chuyện gì khác thì với nhà văn cũng chẳng là gì, văn chương mới là quan trọng. Mà với Nguyễn Quang Sáng thì văn chương thuộc loại chiếu nhất làng văn Nam bộ kháng chiến rồi…
Theo chúng tôi, sự vận động và thành tựu của truyện ngắn Việt Nam sau 1975 bộc lộ khá phong phú ở nhiều mặt. Ở bài viết này, chúng tôi đề cập đến một số phương diện của hình thức thể loại.
Diễn biến của đoạn kết thúc này có thể trình bày lại như sau: trong không khí đầm ấm của buổi tiệc đoàn tụ gia đình, người em gái Thuý Vân chủ động đứng lên nêu vấn đề Quả mai ba bảy đương vừa / Đào non sớm liệu se tơ kịp thì - làm lễ cưới cho Thuý Kiều và Kim Trọng - tức “trả” lại chồng cho chị. Thuý Kiều đã kiên quyết gạt bỏ “phương án” của Thuý Vân
Là một nhà văn sáng tạo không ngừng, Trần Dần luôn luôn “tấn công và đập phá không thương tiếc những đường biên nghệ thuật tưởng đã rất sâu gốc bền rễ, để kiến tạo những đường biên nghệ thuật mới” (xem Hoài Nam 2011). “Những ngã tư và những cột đèn” là một bằng chứng sinh động cho tinh thần, ý thức sáng tạo mạnh mẽ đó của ông. Tuy nhiên, sáng tác của ông bị chậm mất một quãng thời gian quá dài (44 năm) mới đến được với công chúng. Điều đó có gây thiệt hại gì nhiều cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại hay không?
Nhà văn Vũ Bằng sinh năm 1913 tại huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Ông bắt đầu cầm bút từ rất sớm, 16 tuổi in bài báo đầu tiên. Khi tác phẩm văn xuôi đầu tay "Lọ văn" ra đời, ông còn đang là học sinh trường Albert Sarraut. Đến khi tốt nghiệp trường này, với tấm bằng tú tài Pháp, Vũ Bằng bước hẳn vào con đường văn chương...
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.