Một thời gian dài sau ngày ông rời cõi tạm, tôi hay đi lang thang, không hiểu sao thường ngang qua phố Hàng Buồm, ngẩn ngơ trước quán cà phê mậu dịch năm nào, rồi mới xuôi về phía phố Lãn Ông. Bài thơ này là một nén hương, dâng lên ông, thay cho bao điều muốn nói.
Có thể nói, cuộc đời ngắn ngủi của một hồn thơ độc đáo và khác thường nhất trong nhịp thở chung của thi ca, văn chương miền Nam những ngày tháng đau thương đã đưa Nguyễn Tất Nhiên trở thành một hiện tượng đến giờ vẫn còn sống mãi trong lòng nhiều thế hệ người đọc.
Tác phẩm do nhà thơ Sándor Halmosi chuyển ngữ từ bản tiếng Anh sang tiếng Hungary và nhà thơ Attila F Balázs hiệu đính, được Nhà xuất bản AB-ART ấn hành. Xin giới thiệu bài viết của nhà thơ Bình Địa Mộc cảm nhận về tập thơ “Chất vấn thói quen”.
“Chiến tranh không được trả giá trong thời chiến. Hóa đơn sẽ đến sau đó”(Benjamin Franklin). Xót xa thay, trong nhiều trường hợp, phụ nữ là nhữngngười phải trả hóa đơn. “Lên án cái phi nhân của chiến tranh từ những bi kịchnữ giới, các nhà văn Việt Nam hậu chiến đã tô đậm nỗi đau kéo dài của conngười, ngay cả khi chiến tranh đã đi qua. Có thể nói, đã có một lịch sử củanhững liên đới giữa phụ nữ và chiến tranh trong văn xuôi Việt Nam thời hậuchiến, một lịch sử không phải của sự kiện, chiến công, của những người anhhùng mà của những đau thương mất mát, thông qua những số phận phụ nữ.
Tôi có hân hạnh quen biết và chơi với cả hai, dù tính cách hai ông rất khác nhau. Cũng là chuyện dễ hiểu, có ai giống ai trên đời này, và càng khác nhau, có khi họ càng thân nhau.
Nghĩa là, chừng nào con người ta đánh mất đứa trẻ trong mình thì chừng đó cảm xúc trong họ trở nên bão hòa xơ vữa, tức là không còn “sự ngây thơ hồn nhiên của giác quan”, như cách nói của triết gia Nietzsche. Họ không thể có được sự mơ mộng như thi sĩ Nguyễn Bính: tôi đi ngửa mặt trên hè vắng/ xem những cành cây nó cưới nhau, hay sự hồn nhiên trong trẻo như nữ sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ: ta thành trái mà hồn còn như lá/ cứ xanh hoài xanh chồi biếc thuở non tơ. Đúng như nhà văn Antoine de Saint-Exupéry đã viết trong Hoàng tử bé: “Người ta chỉ nhìn rõ bằng trái tim. Con mắt thường luôn mù lòa trước điều cốt tử.”
Sách Địa chí Tuyên Quang do Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang chỉ đạo biên soạn, NXB Chính trị Quốc gia Sự Thật phát hành năm 2014 đã đánh giá ông “là một tác giả tiêu biểu của văn học hiện đại Tuyên Quang nửa đầu thế kỷ 20”.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.