Họa sĩ Bửu Chỉ sinh ngày 8 tháng 10 năm 1948, mất ngày 14 tháng 12 năm 2002, tại Huế, hưởng dương 54 tuổi. Anh tốt nghiệp cử nhân Luật tại Huế, tự học vẽ, chuyên về sơn dầu. Thời sinh viên anh tham gia các Phong trào Thanh niên, Sinh viên Tranh đấu cho hòa bình bị chính quyền VNCH bắt giam từ 1972 đến 1975. Thời đó anh nổi danh về những biếm họa bút sắt, tố cáo tội ác chiến tranh. Đã triển lãm tại Hà nội, Huế, Moskova, Hồng Kông, và nhiều lần tại thành phố Hồ Chí Minh, trước khi qua đời vì xuất huyết não. Nhà xuất bản Trẻ đã phát hành một album Tranh Bửu Chỉ, với lời giới thiệu, bình luận bằng tiếng Việt và tiếng Anh, sách hay, in đẹp, 130 trang khổ lớn, 2003 Thành phố Hồ Chí Minh – (theo Đặng Tiến).
Với Nguyễn Hoa, tôi chơi với anh đã hơn 40 năm nên không lạ gì tính cách sống, bản lĩnh sống nghiêm cẩn của anh ngoài đời, và còn hiểu cả những lúng túng, vụng về đôi khi của anh khi sáng tác thơ. Nhưng thú thực là khi đọc thơ anh, nhiều lúc tôi vẫn không khỏi ngạc nhiên về những suy nghĩ lạ, những cặp từ lấp láy đầy ám ảnh, hay những run rẩy đau buốt tận tâm can trước cuộc sống mà anh và tôi cùng trải nghiệm.
Sau "Vong bướm", một thể nghiệm với chèo cổ, đã hơn 2 năm Nguyễn Huy Thiệp không xuất hiện trên văn đàn. Ông quyết định dừng hẳn nghiệp sáng tác ở tuổi 65.
Cả nhà ồn lên, ra sức can ngăn. Thôi thì đủ lời phân tích nầy nọ. Cả triệu lời khẩn khoản xin Nghĩa hãy trở về. Nhưng chịu. Bạn tôi vốn ương bướng. Trong hoàn cảnh nầy tôi cũng không thể đãi bôi được gì. Nói gì nhỉ?
Nhà văn Nguyễn Thi đã từng bày tỏ quan điểm cầm bút viết văn của mình:Trước khi trở thành nhà văn, tôi đã là người lính, nếu gặp lúc gay go tôi có thể cho cây bút vào túi áo, tay cầm lấy súng và bóp cò. Tôi cần cái không khí của chiến dịch, những cái mà mắt tôi nhìn được, tai tôi nghe được. Trước sự kiện lịch sử trọng đại nhưthế này, nhà văn không thể đứng ngoài mà ngó..
Thơ Cao Bá Quát vút lên từ một số phận. Không phải số phận của chỉ một cá nhân mà còn là của cả một dân tộc. Hàng ngàn năm, chúng ta mới có một hiện tượng văn học kỳ tuyệt và đáng ngạc nhiên như vậy. Không phải ngẫu nhiên mà trước Cách mạng tháng Tám, lúc mà thơ Cao Bá Quát chưa sưu tầm được bao nhiêu, có nhà nghiên cứu đã cho rằng “ba bốn trăm bài của Cao Chu Thần thi thảo giá ở Trung Quốc thì đã được in ra, làm cho tác giả đứng ngang hàng với Đỗ Thiếu Lăng, Tô Đông Pha chẳng hạn, nhưng ở nước ta, đành mai một”
Khi đọc những tác phẩm của G. Marquez và đặc biệt là Trăm năm cô đơn, nói một cách đơn giản nhất, tôi đã nhìn thấy sự thay đổi quan trọng trong cái nhìn của mình với chính cái làng của mình. Điều vĩ đại trong sáng tạo của Marquez là vậy.
“Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài“Khúc ca quy ẩn”như lời từ giã đời thơ. Nhân đọc bài thơ này, nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ viết “Quy ẩn, về đâu?”để tặng ông như một nét “lễ” của cách ứng xử trong truyền thống văn hóa.
Trịnh Công Sơn đã từng nói nhiều lần trên phương tiện thông tin đại chúng với đại ý: Chúng ta từ hư vô mà đến với thế giới này và khi chết đi thì sẽ trở về với hư vô. Vì vậy, âm nhạc và ca từ của ông đều man mác một nỗi hoài niệm về thế giới phía sau sự sống. Nhiều người đã viết về Phật giáo trong nhạc Trịnh Công Sơn; tu sĩ Nhất Hạnh cũng đã sử dụng nhạc Trịnh Công Sơn trong những bài thuyết giảng của ông.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.