Hoàng Nhuận Cầm từ lâu đã là một cái tên đặc biệt thi vị trong đời sống văn học nước nhà. Anh thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ; chùm thơ đầu tiên của anh gửi báo Văn nghệ (1971 - 1972) đã được Giải Nhất cùng các nhà thơ sau này đều là những tên tuổi vang lừng: Nguyễn Duy, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Đức Mậu, Vũ Đình Văn.
Một chiều xuân khoảng năm 1830, một chàng thanh niên đẹp trai, trạc tuổi hai trên hai mươi, dáng dấp hào hoa phong nhã theo chân Victor Hugo đến khách thinh của Charles Nodier. Thuở ấy, ở Pháp, phong trào khách thinh (salon littéraire) – một hình thức câu lạc bộ văn nghệ đang thịnh hành.
Tạ Duy Anh đến với văn chương khi mà bậc đàn anh Nguyễn Minh Châu đã hoàn tất sứ mệnh “mở đường tinh anh và tài năng” của mình. Ngay từ cột mốc đầu tiên, Hoàng Ngọc Hiến đã ghi nhận xứng đáng vị trí tiếp nối của Tạ Duy Anh: “Phong cách truyện ngắn Tạ Duy Anh là tín hiệu của một dòng văn học mới, dòng văn học bước qua lời nguyền”.
Chất trữ tình trong thơ Hàn Mặc Tử khác biệt hẳn so với các thi sĩ cùng thời. Nếu thơ của họ truyền thẳng cảm xúc đến người đọc thì thơ của ông lại “gợi cảm” sâu xa bấy nhiêu.
Mọi tác phẩm khoa học và nghệ thuật đều là con đẻ của thời đại, đều bắt nguồn từ cảm hứng của lịch sử dân tộc, nơi mà nhà khoa học và nghệ sĩ sống và sáng tạo. Giữa khoa học và nghệ thuật có những đặc điểm khác biệt, nhưng cũng còn có không ít tố chất tương đồng, mà bài viết này sẽ được chứng minh dưới đây.
Có một thời, nếu chọn 5 gương mặt tiêu biểu của nền thơ đương đại Việt Nam, các nhà phê bình thường nhắc tới: Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên và Tế Hanh. 5 nhà thơ ứng với 5 ngón tay trên một bàn tay - một bàn tay được coi là "nắm đấm thép" của nền thi ca cách mạng. Trong 5 ngón tay ấy, vị trí có thể được sắp xếp lại giữa các ngón từ thứ 2 tới thứ tư, nhưng vị trí ngón cái (thuộc về Tố Hữu) và ngón út (ứng với Tế Hanh) thì dường như không thay đổi.
Ta không phái các ngôn sứ ấy đi, thế mà chúng lại chạy. Ta đâu có bảo chúng, thế mà chúng lại nói lời tiên tri. Kinh thánh. Thế là ba chàng thi sỹ ấy đã ra đi vào thập niên đầy phấp phỏm đầu tiên của thế kỷ 21. Họ để lại một khoảng trống xót xa trên bản thảo thi ca kỳ lạ và sự nghiệp ít nhiều dang dở đầy tiếc nuối của thi đàn Việt Nam hiện đại. Họ là Lãng Thanh (1977-2001), Nguyễn Lương Ngọc (1958-2001) và Dương Kiều Minh (1960-2012).
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.