Nếu đưa vào danh mục những nam nhà thơ đam mê và sống chết với cây bút của mình, yêu thơ đến độ có thể ngồi hàng giờ để bàn bạc các vấn đề của thơ ca, viết, viết và viết như thể không cầm bút là… chết, thì đó là nhà thơ Lê Minh Quốc.
Trong lịch sử văn học nghệ thuật Việt Nam, Đào Tấn là hiện tượng đặc biệt, một ông quan to, đồng thời là một nghệ sĩ lớn nhất ở thế kỷ 19. Một con người thăng quan tiến chức rất nhanh và rất cao do tài năng và công lao phát triển nghệ thuật. Do đó ngành tuồng từ miền Bắc đến miền Trung và Nam bộ đã suy tôn Đào Tấn là “Hậu tổ”. Đào Tấn cũng được đặt tên cho một con đường ở quận 5, TPHCM, từ năm 1960 trước cả Hà Nội và nhiều thành phố khác.
Là một nhà thơ có lối phóng bút tự do, chân chất và “mộc” ngay như bút danh của ông - “Bút Tre”, thế nhưng từng có một thời chính cái giản dị mộc mạc trong thơ Bút Tre ấy bị xem là sự non nớt, tùy tiện trong nghệ thuật, phải kiểm điểm… và cuộc đời ông cũng mộc mạc, đầy sóng gió như chính những vần thơ của ông vậy. Đến mãi sau này, người ta mới thấy hết được cái hay, cái ý nghĩa trong thơ Bút Tre.
Bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo viết ngày 28/8/1945 tại 48 Hàng Ngang và đọc tại quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945 khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một văn bản chính trị quan trọng bậc nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại.
Á Nam đã hòa tiếng thơ của mình, số phận của mình vào với nhân dân: ông đã làm người xẩm mù hát rong nỗi lòng của nhân dân, như Homère đã làm với Iliat, Bạch Cư Dị đã làm với Tì bà hành, Trường hận ca…
Do sự vận động khách quan của lịch sử dân tộc, hình ảnh nấm mộ xuất hiện nhiều trong văn học Việt Nam hiện đại. Trong tương lai, hình ảnh nấm mộ sẽ vẫn xuất hiện trong văn học Việt. Nhưng hi vọng rằng đó là những hình tượng được các nhà văn xây dựng để phản ánh quy luật sinh, lão, bệnh, tử của đời người chứ không phải là chứng nhân cho một giai đoạn dài đau thương, mất mát của dân tộc.
Những ngày mùa đông nào đó, với đôi mắt người như cánh hoa sen xanh, Nguyễn Bắc Sơn nhìn ra biển. Cuối đời thi sĩ ra nhìn biển / Thương mùa đông sóng bạc đầu rồi / Chí lớn mộng con đều ảo hoá / Còn lại dòng sông với mình tôi…
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.