"Cách tân thơ" nếu không có nội dung tư tưởng mới lạ, có tính tiên phong của thời đại (chứ không phải đi tắt đón đầu), được xã hội tự giác chấp nhận (chứ không phải là cưỡng bức áp đặt), mà chỉ nặng về phô bày chữ nghĩa theo những cách diễn đạt khác lạ với truyền thống thì cũng mới chỉ là CÁCH ĐIỆU mà thôi .
Tôi đã viết, tôi đón đợi đại hội các nhà văn Xô-viết hệt như một cô gái đón đợi buổi vũ hội đầu tiên trong cuộc đời. Nhiều trong số những niềm hy vọng ngây thơ của tôi, có thể đã không được thực hiện, nhưng đại hội vẫn còn đọng lại trong ký ức của tôi như một ngày hội lớn, kỳ lạ.
Mới đó mà đã năm năm rồi. Năm năm trong chớp mắt ngậm ngùi, trong tiếc nhớ khôn nguôi về một nhà văn suốt đời dành ngòi bút mình viết về một vùng đất, những con người mà với ông quá đỗi thân thương và vô cùng gần gũi...
Cái phong sương của Thái Nam Anh cũng lạ, nó ẩn trong cái cười mỉm và đôi mắt luôn hấp háy, lấp lánh sáng. Chưa bao giờ tôi nghĩ anh già và thường gọi thẳng tên một cách tự nhiên. Nhiều khi cũng tự nhiên kiểu ấy sai phái anh bất cứ việc gì, kể cả việc riêng. Thật chẳng ra làm sao, cơ mà họ Thái cũng cứ tự nhiên thực hiện không thắc mắc.
Tôi biết Nguyễn Hưng Hải sau cuộc thi thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1983 - 1984, khi chúng tôi cùng được giải thưởng ở cuộc thi đó. Nguyễn Hưng Hải được tặng giải ba với bài Trở lại Trường Sơn, đồng hạng với Lưu Quang Vũ, Nguyễn Đình Chiến, Nguyễn Quang Thiều, Trần Quang Đạo. Đây là bài thơ hồi nhớ con đường ra trận, như là một dấu hiệu của con mắt luôn muốn “nhìn lại”, soi lại những gì đã đi qua mà sẽ nói về thơ ông sau đây.
Nguyễn Quang Thiều: “Tháng bảy năm nay mưa nhiều. Một chiều ngồi uống cà phê nhìn phố xá ngập nước trong mưa lại nhớ đến nhà văn Hòa Vang. Nhớ bởi truyện ngắn “Sự tích ngày đẹp trời” của ông. Nhớ và quả thực lúc đó chỉ muốn ông hiện ra, ngồi xuống cà phê cho đến lúc tưởng mình chìm mãi vào cơn mưa… Về nhà lục lại bài viết về ông cách đây trên dưới mười năm khi Hòa Vang vẫn còn sống và gửi cho Văn nghệ.”
Từ khi được đích thân Bác Hồ chọn cho đến năm 1955, Quốc ca giữ nguyên lời của bài Tiến quân ca. Sau năm 1955, Quốc hội mời nhạc sĩ Văn Cao tham gia sửa chữa một số chỗ về phần lời và trở thành bài Quốc ca như hiện nay.
Đặt vấn đề có hay không một nềnvăn chương hậu hiện đạitrongvăn học Việt Nam đương thời, chúng tôi có tham vọng tiếp xúc với vấn đề này theo một cách thức riêng: không bắt đầu những nghiên cứu về tiểu thuyết đương đại bằng một mặc định bất kỳ nào về nó (kể cả mặc định “hậu hiện đại”).
Ở đây chúng ta chỉ đơn cử một số thi nhân trước và sau cuộc chiến, tượng trưng những câu thơ, bài thơ để lại mang một phong cách hiện thực của từng thời kỳ biến thiên lịch sử; lời thơ thường xây dựng qua hai bề mặt, có thể ở trạng huống tâm linh xuất thần, biến thể trừu tượng hay ẩn dụ; cái đó là siêu lý, là cõi phi của thi ca, đôi khi vượt thoát ra khỏi phạm trù của văn chương, một thứ văn chương phi văn chương (nonliterary); thế giới đó người ta gọi là thế giới của thi ca.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.