Có những con người mà năm tháng càng trôi qua, tên tuổi họ càng sáng rõ như một phần di sản tinh thần của dân tộc. Nguyễn Tuân – nhà văn, nhà văn hóa, một tài hoa bậc thầy của nền văn học Việt Nam hiện đại – là một trong số đó.
Trong các thành tựu văn học của Y Ban, truyện ngắn thể hiện đầy đủ bản sắc, cũng là nơi kết đọng rõ nhất tài năng văn chương của chị. Ấn tượng đầu tiên khi đọc truyện ngắn Y Ban là tính hấp dẫn. Vì sao như vậy?
Y Phương ra đi khi bao dự định vẫn còn dở dang: “Anh ấy đang thực hiện trường ca Hồ Chí Minh, một trường ca lớn. Việc dang dở nữa là anh đang sắp kết thúc việc học chữ Hán. Hết năm nay sẽ tiếp tục học Nôm Tày”. Đến đây, tác giả “Ngôi nhà xưa bên suối” tổng kết: “Y Phương có một cuộc đời đáng sống. Cả đời làm việc, cả đời theo đuổi đam mê của mình”.
Cung bậc mỗi người khác nhau nhưng có lẽ nổi bật và ấn tượng nhất là tráng sĩ Phạm Thái. Một bầu rượu, túi thơ và thanh kiếm sắc ở bên mình. Phạm Thái khát khao, Phạm Thái si tình, Phạm Thái tuyệt vọng…
đây là thể loại khó, chỉ những cây bút vững vàng mới dám dấn thân. Và, nhà thơ Phan Hoàng là một trong những cây bút như vậy, anh đã thành công với “Bước gió truyền kỳ” bằng một thi pháp nghệ thuật hoàn toàn mới, dùng hình tượng gió độc đáo và quyến rũ để dựng nên bản trường ca.
Nhà thơ Mai Văn Phấn đã nói với tôi: Phạm Tiến Duật là người đã mang đến cho thi ca trong những năm tháng chiến tranh một đời sống mới cả về thi pháp lẫn nội dung. Mai Văn Phấn hoàn toàn đúng. Bởi đấy là sự thật. Có lẽ không bao giờ còn có một nhà thơ được tất cả các Ủy viên Bộ Chính trị mời cơm khi ông trở về từ chiến trường.
Nghiễm nghèo, sống khổ hạnh. Tính tình đôn hậu. Rất nhiều bạn bè yêu mến anh. Anh bị ung thư phổi. Vết mổ dài từ lưng vòng qua ngực trái. Một bác sĩ cực giỏi chuyên khoa giải phẫu đã cắt phổi cho anh. Suốt năm cứ đến định kỳ là anh đi tái khám, xạ trị ở sài Gòn. Mỗi ần đi, anh đều đến tôi, cùng nhau đến một quán nào đó, uống cà phê, như một buổi từ giã. Ở đấy, tôi nghe tiếng ho của anh. Tôi quan sát sắc diện, những ngón tay, ngón chân của anh và thật sợ hãi vì tôi cảm nhận thật rõ ràng, bóng tối đang chậm chạp lan dần, phủ lên người anh. Nhưng có lẽ, anh không cảm thấy như thế. Anh đọc những bài thơ mới của anh. Đôi mắt yếu ớt của anh rực cháy theo từng câu thơ.
Nó có bà con gần với thời “Hoa mướp rụng từng đóa vàng rải rác/ Lũ chuồn chuồn nhớ nắng ngẩn ngơ bay” của Anh Thơ – “thi sĩ của “cảnh quê”. Nó có họ hàng xa với thời “Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi” của Bàng Bá Lân – “thi sĩ của đời quê”. Nó chính là thời “Mà đất nước non sông cùng cây cỏ/ Còn thuộc quyền sở hữu của linh thiêng” của Đoàn Văn Cừ – “thi sĩ của tục quê”.
Văn Mai Ninh – như chính cuộc đời của bà – dù sống và viếttừ nơi đất khách nhưng tác phẩm của bà luôn trên một hành trình trở về, không chỉ là trở về bằngký ức mà còn là sự trở về của một nhân cách nghệ thuật viết bằng tiếng mẹ đẻ nơi xứ xa.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.