Trần Huyền Trân là người cuối cùng lọt được vào Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân. Khe cửa hẹp, lại bị sập mạnh và… nhanh quá, khiến ông chỉ kịp mang theo chút hành lý cầm tay, còn những thứ ba lô lỉnh kỉnh đành phải bỏ lại bên ngoài. Là tôi có cảm giác vậy khi đọc bộ hợp tuyển Thi nhân Việt Nam, chương mục về Trần Huyền Trân.
Bài này nhằm trao đổi với tác giả Nguyễn Thị Tịnh Thy về những bất cập của nghiên cứu, phê bình văn học hiện nay nhân đọc bài “Những bất cập và thái quá trong nghiên cứu văn học hiện nay” của tác giả trên Sông Hương, 294/08-13.
Các bài viết của nhà phê bình văn học Nguyễn Hòa ít khi gây được sự đồng thuận một cách tuyệt đối giữa những tầng lớp độc giả khác nhau. Nhưng dù có thể đồng tình hay không đồng tình với các ý kiến của anh thì ít ai quan tâm tới những lĩnh vực mà anh viết có thể dửng dưng khi đọc những lập luận, nói theo cách anh đã từng tự nói, “cây búa trên bàn phím”, đầy tâm huyết… Cá nhân tôi luôn thấy những vấn đề mà nhà phê bình văn học Nguyễn Hòa đặt ra rất cần thiết để chúng ta có thêm tư liệu và kiến thức suy ngẫm theo cách của riêng mình.
Có lẽ là chưa chính xác nhưng tôi thích được gọi như thế khi đọc chấm của Nguyễn Ngọc Tư. Việc một nhà văn viết thơ hay một nhà thơ viết văn xuôi vốn không phải chuyện lạ. Nhưng với Nguyễn Ngọc Tư, một cây bút đã lẫy lừng trên địa hạt văn xuôi thì lại là điều rất đáng nói. Hơn nữa, ý thơ rong ruổi trên đất lạ cũng được lấy từ bài thơ hỏi đường đầy trăn trở của chị.
Năm 1965 Tạp chí sáng tác văn nghệ Mặt Đất do Nguyễn Đức Sơn chủ trương ra đời, lồng lộng phóng khoáng một luồng gió mới lạ thổi qua mặt đất gây nên một trận bão hào hứng xôn xao trong giới văn nghệ sĩ, nhưng chỉ ấn hành được dăm bảy số rồi nghỉ vì nhiều lý do ngoài ý muốn.
NTT: Một người bạn vừa gửi cho tôi bài viết của nhà thơ Vũ Cao viết về tập thơ Đồng dao cho người lớn khi ông đang là Chủ tịch Hội đồng thơ Hội Nhà Văn VN (1996). Ông là người từng khích lệ tôi từ lần đầu tiên khi tôi gửi thơ cho Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội hồi ông làm Chủ nhiệm tờ tạp chí này trong chiến tranh chống Mỹ bằng 1 lá thư dài 8 trang giấy pơ-luya. Ông mất ngày 3.12.2007, và có lẽ đây là bài viết duy nhất của ông về thơ tôi. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn, như một kỷ niệm ân tình.
Nói đến sự nghiệp văn chương của Nguyễn Công Trứ, người ta không thể không nhắc đến thơ hát nói. Nói đến thơ hát nói Nguyễn Công Trứ, người ta lại không thể không nhắc đến Bài ca ngất ngưởng. Đây là tác phẩm tiêu biểu cho cá tính và phong cách văn chương (thơ ca) Nguyễn Công Trứ. Bởi vậy, tác phẩm được tuyển, dẫn trong hầu hết các công trình biên soạn, nghiên cứu về ông. Nó cũng được đưa vào giảng dạy chương trình Ngữ văn ở phổ thông trung học (Ngữ văn 11). Tuy nhiên, từ văn bản cho đến hướng tiếp cận bài thơ vẫn chưa phải đã ổn đáng. Khỏi phải dẫn lại rất nhiều ý kiến khác nhau về các vấn đề đã nêu, chúng tôi xin trình bày ý kiến của mình để độc giả tự so sánh và lựa chọn cho mình cách hiểu hợp lí nhất.
Chiều ngày 25/10 tại Cà Phê sách Phương Nam, số 15 Lê Lợi, Tp Huế, Hội nhà văn tỉnh Thừa thiên Huế, Công ty văn hóa Phương Nam và Trung tâm văn hóa New Space Arts Foudation đã tổ chức buổi tọa đàm giới thiệu tác giả Phan Tuấn Anh - Gương mặt phê bình trẻ, và thơ. Tới dự có đông đảo bạn đọc, các nhà văn, nhà thơ, các nhà nghiên cứu phê bình văn học, các giảng viên và sinh viên đại học Huế cùng phóng viên báo chí trong tỉnh.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.