Rào đón thế là vì tôi với Nguyễn Trọng Tạo cùng thời. Và vì tôi thấy Tạo là người tài hơn mình, lại nhích hơn mình một hai tuổi thì gọi nhau là anh xưng tôi, chứ thực ra, nếu thân nhau hơn nữa, sướng hơn nữa phải là mày tao, nó mới đã. Tôi thấy tôi với Tạo mà mày tao được với nhau thì cũng xứng.
Chu Văn Sơn viết cho tôi: "Trên đỉnh Mẫu Sơn có một loài hoa do người Pháp mang sang trồng trong những khuôn viên biệt thự từ đầu thế kỉ trước. Sau 1945, người Pháp đã đi khỏi xứ này, hoa bị bỏ lại. Thành hoa hoang. Giờ vẫn mọc lẫn giữ hoa hoang cỏ dại. Giống bị thoái hóa, gầy guộc nhợt nhạt. Rất thương. Đó là Layơn. Phận Hoa? Phận đàn bà? Phận người? Thân phận cái đẹp?... Thấy lẫn lộn trong một kiếp Layơn ấy
Lê Tiến Vượng, hội viên Hội Nhà văn Hà Nội vốn là một họa sĩ trước khi trở thành thi sĩ. Nét tài hoa của nhà thơ này thể hiện khá độc đáo trong thể thơ lục bát và hồn quê-tình làng đã làm nên nhạc điệu trữ tình khá tinh tế của hồn thơ anh khi trong họa có thơ và trong thơ có họa. Xin giới thiệu chùm thơ lục bát của anh (Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến tuyển chọn và giới thiệu).
Anh, nhà thơ, nhà tướng thuật, nhà phong thủy học... Ái Nhân BÙI CAO THẾ là đồng hương xã với tôi. Cha anh là người thôn Gia Cốc (làng Cốc), mẹ anh là người thôn Đỗ Thượng (làng Đọ), chị cùng mẹ khác cha với anh là người thôn Đỗ Hạ (làng Đá), thôn tôi. Anh hơn tôi cũng kha khá tuổi nên thủa nhỏ, tôi chỉ biết anh qua lời khen của làng xóm: hiền lành, chăm chỉ và học giỏi.
Đến bây giờ thì “Mùa xuân đầu tiên” đã trở thành một trong những ca khúc hay nhất, phổ biến rộng rãi nhất, được yêu thích nhất trong di sản âm nhạc của Văn Cao, sánh ngang với những tuyệt phẩm bất hủ “Bến xuân”, “Thiên thai”, “Trương Chi”, “Buồn tàn thu”, “Bắc Sơn”, “Tiến quân ca”, “Ca ngợi Hồ Chủ tịch”, “Trường ca sông Lô”, “Làng tôi”, “Ngày mùa”, “Tiến về Hà Nội”… Với khúc valse dịu nhẹ, thư khoan mà sức lay động, thức tỉnh dường như không cùng trên, thiên tài âm nhạc Văn Cao đã phục sinh cùng mùa xuân đại thắng của đất nước.
Nhà văn vốn không phải là một tầng lớp và chiếm một vị trí “khiêm tốn” trong bảng giá trị hôm nay. Vì thế, danh xưng nhà văn không gắn với quyền lực và lợi ích vật chất. Tuy nhiên, họ lại có một “quyền năng” trong việc thuyết phục con người bằng tình cảm. Và đương nhiên, được viết, được phản ánh thế giới là một đam mê, một nhu cầu tâm hồn khó chối từ để nhiều người bước vào con đường viết văn.
Không phải vô cớ mà “Tổ quốc nhìn từ biển” (nhan đề một tập thơ của Nguyễn Việt Chiến) đã trở thành tâm thức cộng đồng trong những năm qua khi Biển Đông dậy sóng. Hơn bao giờ hết người Việt Nam đang rất cần phát huy một tinh thần đoàn kết cao độ trong sự nghiệp kiến quốc và bảo về chủ quyền thiêng liêng của đất nước.
Trước hết, cũng cần lưu ý là trong giai đoạn này, tuy hoạt động kiểm duyệt tương đối lỏng lẻo phần vì hiện tình chính trị ở Nam Bộ bấy giờ khá rối ren, phần vì sức ép từ phong trào tranh đấu của giới văn - báo ở đô thị nên các nhà văn có thể viết nhiều về chủ đề yêu nước chống ngoại xâm, nhưng họ vẫn phải tìm cách tránh né, không phải lúc nào cũng viết trực tiếp hay tả kĩ hoạt động của kháng chiến chống Pháp. Thay vào đó là những câu chuyện lấy bối cảnh kháng Nhật, các phong trào yêu nước trước Cách mạng tháng Tám, nhưng người đọc đều ngầm hiểu là viết để chống Pháp.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.