Tên thì ngắn người thì dài / Thuốc lào thuốc lá chị sài như anh/ Bây giờ núi đỏ rừng xanh/ Tam Đường một góc nổi danh văn gừng / Sữa đá mới thật lạ lùng/ Những người mẹ núi nửa mừng nửa lo/ Cuộc đời bao nỗi cam go/ Một mình một lái một đò một sông/ Đã qua mắt thắm môi hồng/ Lai Châu là mẹ, là chồng, là ai...? Giỏi ! cái bác Trần Nhương khéo miệng ứng khẩu thành “thơ tếu”, chỉ với mười câu lục bát là đã vẽ được chân dung một nhà thơ nữ tài hoa trứ danh của vùng Tây Bắc khi nêu được cả tên 2 tập thơ khá nổi tiếng của chị là “Sữa đá” (Giải thưởng văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2000) và “Những người mẹ núi” (Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2002).
Đọc Bùi Giáng thi thoảng thấy có câu lạ, thi thoảng lại thấy có câu hay, chứ bài hay thì quả tình quá hiếm hoi. Rất nhiều những câu thơ “dở hơi”, lằng nhằng khó gặm. Lại còn nhiều câu lục bát lạc vần, như thể cố tình chống lại các quy tắc của thể thơ này…Nhìn chung là đọc không vào, thành ra không thích. Hỏi một số bạn bè, họ cũng nghĩ tương tự như thế! Vậy mà tại sao một thi sỹ có nhiều ý kiến trái chiều, đến nay lại được nhắc nhiều trên mặt báo, như một “kỳ nhân”, như một vị khách vãng lai ở cõi người, mà chưa rõ tung tích? Bài thơ “Mắt buồn” của Bùi Giáng được chọn tuyển vào tập “Ngàn năm thơ Việt” (NXB Văn Học-2010), có lẽ là một trong những bài thơ tiêu biểu cho vẻ thơ độc đáo của ông chăng? Bài thơ lục bát không mấy ngọt ngào, tựa đề “Mắt buồn”, mà chỉ có hai câu kết là nói về mắt, nói về “còn hai con mắt khóc người một con”... Đó chính là hai câu khép lại tứ thơ, vu vơ mà tận cùng sâu thẳm nỗi niềm, khiến người ta phải cúi đầu ngẫm nghĩ!
Liệu có thể có sự đột phá, đổi mới cho văn chương nước nhà sau khi nhà thơ Hữu Thỉnh tái đắc cử Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam? TPCN có cuộc trao đổi với nhà thơ Hữu Thỉnh.
NTT: Tôi được quen biết mấy người vợ của các nhà văn trong nhóm Nhân văn Giai phẩm, đó là bà Băng vợ Văn Cao, bà Yến vợ Hoàng Cầm, bà Khuê vợ Trần Dần và bà Bội Trâm vợ Phùng Quán. Có điều thật đáng kính phục các bà là mấy chục năm chồng bị hoạn nạn, bà nào cũng yêu thương chăm sóc chồng con và bảo vệ chồng đến kỳ lạ. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tụng xưng các bà là “những hộ pháp” của văn tài. Bà Yến đã mất năm 1985, giờ bà Bội Trâm cũng đã theo chồng về cõi khác. Tôi có thăm bà Trâm trước khi mất 1 tháng, và đến viếng tiễn đưa bà. Giờ đọc bài của Ngô Minh viết về bà mà rưng rưng cảm động. Một cảnh ngộ thật đặc biệt. Một mối tình thật vĩ đại. Một bài viết thật trân trọng và đắng đót…
Đã gần 20 năm, sau khi cuốn tiểu thuyết “Thân phận của tình yêu” (tức “Nỗi buồn chiến tranh”) của nhà văn Bảo Ninh được trao giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam. Đến nay, hình như vẫn chưa có cuốn tiểu thuyết nào viết về chiến tranh Việt Nam được tái bản nhiều đến vậy và vẫn chưa có cuốn tiểu thuyết nào cùng đề tài vượt qua được nó.
Nhưng điều khiến tôi bất ngờ không phải là vì gặp lại Cụ Hoa-Bằng, mà ở phần 2 này của tập thơ “Hương sắc Yên hòa”, bất ngờ tôi thấy một cái tên ít người biết đến (nếu không phải là nhà nghiên cứu văn học sử Việt nam) – đó là nhà thơ Minh-Tuyền . Tôi chợt nhớ trong Từ điển văn học do nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1983, tại trang 126, vần “N”, trong mục “Nhóm Tri-tân” đã ghi : “Về sáng tác, báo Tri-tân đã đăng thơ của Minh-Tuyền (trường ca “Tạo hoá và nhân loại”, 1943)…” . Vậy nhà thơ Minh-Tuyền đã có tên trong Từ điển văn học Việt nam . Ông là ai vậy ?
Nhiều năm nay những người trong giới, khi nhắc đến thơ Trúc Thông thì hầu như theo thói quen hoặc theo một sự đánh giá nào đó, chỉ nhắc tới bài thơ lục bát "Bờ sông vẫn gió". "Bờ sông vẫn gió" là một bài thơ lục bát hay, nhuần nhị và cảm động về người mẹ. Một nhà cách tân thơ như nhà thơ Trúc Thông, trong sáng tạo thi ca của anh, dĩ nhiên những bài thơ tiêu biểu không chỉ là "Bờ sông vẫn gió", mà phải kể đến một loạt những bài thơ tự do Trúc Thông sáng tác vào những năm 70-80 của thế kỷ trước. Đó là những bài thơ khoáng đạt và thuần khiết, với kết cấu thơ vừa chặt chẽ vừa mở, thể hiện sự lao động nghệ thuật công phu. Theo tôi, dấu ấn của thơ Trúc Thông được tạo lập đậm nét có lẽ bắt đầu ở thời kỳ này. Đó là thời kỳ mà thế giới thơ Trúc Thông mở về phía Hy vọng, về sự hồn nhiên trinh tuyền trong cảm nhận của nhà thơ về thế giới và thiên nhiên và về cuộc đời...
Phạm Quỳnh đã nhận ra tình trạng bất ổn ấy, và ông xem đó là những dấu hiệu khủng hoảng của văn hóa dân tộc trên con đường hòa nhập với phương Tây. Ông nhận thức một cách rõ ràng: nền văn hóa dân tộc đang cần một cuộc cải cách lớn. Trong hàng loạt những công việc phải tiến hành, có một việc hết sức cấp thiết: hiện đại hóa tiếng Việt. Điều này xuất phát từ mối liên hệ mật thiết giữa văn hóa và ngôn ngữ. Phạm Quỳnh tâm niệm: "muốn có một nền văn hóa dân tộc thì phải tồn tại một ngôn ngữ dân tộc hoàn thiện xứng đáng là ngôn ngữ văn hóa"
Trần Thị Ngọc Lan sinh năm 1979 tại thị trấn Sao Vàng, Thọ Xuân, Thanh Hoá. Lên 5 tuổi, do một trận sốt bại liệt biến chứng sang não, chị bịbại liệt biến dạng nửa người bên phải, tổn thương thần kinh ngoại biên, làm méo giọng nói, chân phải và tay phải bị liệt, và nửa bên trái cũng yếu. Ngày mới bị lâm bệnh, chị phải bò. Sau hai năm luyện tập chị đi lại được, nhưng rất khó khăn. Trong hoàn cảnh ấy, Ngọc Lan đã tìm đến với văn chương.16 tuổi, chị ra mắt tiểu thuyết đầu tay nhan đề Ánh sao rơi. Năm 1999, chị viết thư gửi trực tiếp cho ông Nguyễn Minh Hiển, lúc đó là Bộ trưởng Bộ GDĐT. Khi ấy, Bộ GDĐT quy định không cho những người tàn tật không đủ sức khoẻ dự thi vào đại học. Trong thư chị đã viết: "Tôi là người có năng khiếu văn chương, đã có tác phẩm được xuất bản, và trên hết tôi muốn là người có tri thức, sống có ích cho xã hội. Đề nghị ông cho tôi được dự thi đại học, để tôi có thể thành công dân tốt, có ích cho xã hội, và để bản thân tôi, gia đình tôi đỡ thiệt thòi". Bộ trưởng đã đồng ý, đánh công văn về cho Trường Viết văn Nguyễn Du - nay là khoa Sáng tác và Lý luận phê bình văn học, Đại học Văn hoá Hà Nội, đề nghị trường cho chị dự thi như những thí sinh khác. Và chị đã đỗ vào trường. Cho đến nay Trần Thị Ngọc Lan đã cho ra mắt 4 tiểu thuyết, 4 tập thơ và 3 tập truyện ngắn
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.