Trong đời sống bình thường, Mai Linh là một người đàn ông có phong thái phong lưu, cốt cách nghệ sĩ vững vàng nên những công việc đời thường khéo léo chỉ làm đậm hơn một cá tính đáng yêu.
Ai hoài công đi đếm từng cây lúa dưới đồng; ai nhọc lòng theo suốt dòng sông dò ra từng khúc nông, sâu; ai tốn công hao sức tìm mây trời mấy lớp trên không? Vâng, nào ai chịu bỏ thời gian làm những công việc đó. Dĩ nhiên, vào thời xa xưa ấy, thời chưa có những kỹ sư nông nghiệp, địa chất, khí tượng,…đi khảo sát thiên nhiên để giảo nghiệm việc làm liên hệ với đất trời, khí hậu. Kể ra việc làm nào khó chi đâu . Ngoại trừ bay lên cao dò tìm từng lớp mây trời, còn lúa, còn sông thì chỉ cần bỏ công là biết được.
Trước những thử thách của nhiều trường phái thơ hiện đại, xem ra thơ lục bát Việt Nam vẫn sống khỏe. Nó thậm chí không nhất thiết phải phân biệt rạch ròi “hậu lục bát Truyện Kiều”, “hậu lục bát Lửa Thiêng” hay “hậu lục bát Bùi Giáng”. Tuy vậy để được ghi tên tác giả dưới những âm tiết quen thuộc, dễ nhớ đó… ắt tâm hồn người thi sĩ phải gạn đục khơi trong bao lần.
23 trại viên tham dự Trại sáng tác do Tạp chí Văn nghệ Quân đội phối hợp với Hội Liên hiệp VHNT Đồng Tháp tổ chức đã được tham gia nhiều hoạt động bổ ích, đi thực tế sáng tác tại một số địa phương, đơn vị quân đội, tham quan các danh lam thắng cảnh vùng sông nước miệt vườn Nam Bộ... Hai nhà thơ khoác áo lính Phan Tùng Sơn và Nguyễn Minh Đức đã gửi về Ống kính nhà văn những hình ảnh mà các anh “chộp” được trong các cuộc dã ngoại. Cùng với đó PV VNQĐ Online cũng đã “lượm lặt” từ Facebooks một số tác giả tham dự Trại viết như một cách theo chân họ trong những chuyến trải nghiệm với đất và người Đồng Tháp.
Tài năng của ông ư? Vì ông là một nhà thơ khiêm nhường nên ít ai quan tâm đến! Nhưng, ít ai biết, ngay những ngày mới đặt chân lên đất Bắc, khi Bác Hồ kêu gọi các văn nghệ sĩ soạn “Cương lĩnh mặt trận Tổ quốc diễn ca” để truyền bá trong nhân dân. Cùng soạn với ông, còn có 16 nhà thơ khác; nhưng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn tác phẩm của Yến Lan.
Đọc bài thơ của cháu mà tê tái lòng. Có lẽ số phận đã đưa anh về Huế để vĩnh viễn nằm lại với Huế, nơi đã sinh ra nhân cách Hoàng Phủ Ngọc Tường, văn chương Hoàng Phủ Ngọc Tường? Nói cách khác, sông Huế, núi Huế, những con đường Huế, những vườn cây Huế… đã gọi Hoàng Phủ về?... Nghĩ thế, nhưng tôi vẫn mong sao Hoàng Phủ sẽ thoát khỏi bạo bệnh, như những lần trước…
Trong thơ của họ, những hình ảnh, những cấu trúc ngẫu nhiên, những kết hợp bất ngờ, những hương vị xa lạ... bỗng xuất hiện như là sự tuyên cáo về tính hợp thức của một trật tự mới. Trật tự ấy bao gồm hiện thực trực cảm, phi lí, những ảnh tượng của giấc mơ, huyền bí, lạ lẫm với kinh nghiệm thông thường.
Thoạt tiên, tôi định đặt tên cho bài viết về Nam Cao là "Nhà văn của nước mắt và bi kịch". Nhưng lại thấy văn Nam Cao không chỉ có nước mắt và bi kịch. Văn ông còn có cả hài kịch, có niềm lạc quan hướng tới điều tốt đẹp, tươi sáng... Nhưng cái lối văn hiện thực và lạ lùng ấy cho ta thấy có gì thăm thẳm trong văn chương về những phận người...
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.