Vừa là học giả, là nhà nghiên cứu, là dịch giả, là thầy giáo… nhưng sau hết ông là một thi sĩ đã để lại cho đời vô số giai thoại nửa thực nửa hư, bi hài trộn lẫn.
Một lần gặp gỡ gần nhất, khi được hỏi vị trí những tác phẩm viết về chiến tranh trong “gia tài” thơ Thanh Thảo, ông đã trả lời: “Những tác phẩm ấy, trước hết, có chỗ đứng trong lòng tôi, trong tâm hồn tôi. Nếu anh gọi tâm hồn tôi là gia tài của tôi, thì thơ về chiến tranh và người lính của tôi nằm gọn trong đó”. Câu trả lời của ông chính là tinh thần “mở” cho cuộc trò chuyện với Tạp chí Văn nghệ Quân đội số này.
Gần đây cuốn hồi kí cuối đời của ông, Ánh sáng và Bóng tối trên châu Âu, không chỉ xuất hiện một lần, mà đến hai lần thông qua hai bản dịch khác nhau. Từ đó cho thấy sự ảnh hưởng của Zweig là rất lớn và kéo dài tận đến ngày nay.
“Nghiệt ngã thay thời đại chúng ta, đây có lẽ là một trong những thời đại nghiệt ngã nhất trong lịch sử cái nhân loại được gọi là văn minh này. Bất cứ nhà cách mạng nào được sinh ra trong vài chục năm nay đều bị chiếm lĩnh bởi một lòng yêu nước dữ dội.
Không, Exenhin không xa lạ với cách mạng, chỉ có điều cách mạng và anh không cùng bản chất. Exenhin là con người nội tâm, dịu dàng, trữ tính-cách mạng thì phơi bày, hùng tráng, đầy thảm họa. Và một thảm họa đã đặt dấu chấm lên cuộc đời ngắn ngủi của nhà thơ.”
Phú Quang không chỉ là nhạc sĩ gắn bó, am hiểu và sáng tác nhiều nhất về Hà Nội, mà còn sở hữu lượng ca khúc hay nhất, được công chúng trong và ngoài nước yêu thích khi nhắc nhớ, hát về Thủ đô.
Xem ra, thì đúng là Phạm Duy “phức tạp” thật. Nhưng đây là sự phức tạp trong tâm hồn, trong nhận thức, trong những tiếp biến về nghệ thuật mà những nghệ sĩ lớn thường có. Dù có thể không làm thơ như Văn Cao, nhưng Phạm Duy am hiểu sâu sắc về thơ, điều đó giúp ông rất nhiều trong việc phổ nhạc cho thơ.
Bây giờ thì jazz lại có vẻ đã yên vị, đã đi về chuẩn mực, trong khi nhiều loại hình âm nhạc khác lại đang bung phá. Ngay đầu thế kỷ hai mươi, thơ cũng từng như vậy, và độ bung phá của thơ còn ác liệt hơn cả âm nhạc. Nhưng sang thế kỷ hai mốt, tự nhiên thơ tìm tới những chuẩn mực mới, những “tân cổ điển” dễ tiếp nhận hơn với người đọc. Hay là thơ tự biết, bây giờ còn mấy người đọc thơ đâu, làm khó nhau mà chi!
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.