Một Tiến sĩ Văn chương, một nhà thơ lại dạy ở một trường với một ngành nghề rất xa thơ, rất khó nên thơ (Trường Cao đẳng Tài chính Kế toán), vậy mà… Mai Bá Ấn vẫn làm thơ như lấy tình yêu học trò, tình yêu trường từ trong lòng mình bày ra trang giấy vậy. Thế mới biết: khi xúc cảm chân thật và tràn đầy thì thơ tuôn ra trong bất kỳ tình huống nào, kể cả những tình huống rất… xa thơ.
Đằng sau câu thơ “váy Đình Bảng buông chùng cửa võng” là sự ẩn giấu một phản xạ vô thức khát vọng của con người tự nhiên, mà không một người nào không có. Nhưng có dám nói thật lòng mình hay không thì chẳng phải ai cũng có thể. Chỉ riêng điều ấy thôi, chúng ta là những người đang sống trong thời kỳ hội nhập và phát triển hôm nay cũng cần phải cám ơn nhà thơ Hoàng Cầm, người cách đây gần một nửa thế kỷ đã dũng cảm nói lên một sự thật vừa kín đáo, tế nhị lại vừa không dễ được mọi người chấp nhận, vì những ràng buộc của thói đạo đức giả phong kiến đã ăn sâu vào tiềm thức của con người hàng bao đời nay. Nhưng biết đâu đấy chẳng là nguyên nhân sâu xa khơi gợi trò chơi đố- tìm giữa hai chị em, để rồi nó vĩnh viễn trở thành bài thơ bất hủ trong lịch sử văn học Việt Nam.
Ðó là giai đoạn xuất hiện những tên tuổi như Dương Nghiễm Mậu, Quách Thoại, Nguyễn Ðình Toàn, Trần Dạ Từ, Mai Trung Tĩnh, Ðỗ Quý Toàn, Sao Trên Rừng (Nguyễn Ðức Sơn), Viên Linh, Nguyễn Xuân Hoàng, Diễm Châu v.v… Hàng ngũ đông đảo những cây bút tiêu biểu này, dứt khoát tiến về phía trước, đã giúp cho con tầu văn học, nghệ thuật miền Nam vừa rời bến, còn dùng giằng, lưu luyến bờ cũ, thẳng ra biển khơi.Trong bối cảnh này, thơ Trần Thy Nhã Ca xuất hiện.
Thuở nhỏ, học phổ thông ở miền Nam, tôi đã đọc Nhã Ca và biết tiếng tăm lừng lẫy trên văn đàn miền Nam thời ấy. Nhưng tuổi học trò chỉ mới biết đọc vu vơ. Gặp bài viết của Du Tử Lê (một nhà thơ cũng nổi tiếng văn đàn miền Nam trước 1975) viết về Nhã Ca. Xin được giới thiệu cùng bạn đọc (Mai Bá Ấn)
Trong vương quốc tình yêu tôn giáo của Hoàng Cầm, tình cảm chị em cũng được nhà thơ khai thác vì quan hệ này bao hàm được hai khía cạnh đặc trưng cho mỹ tục của vương quốc này là: cái rạo rực của giới tính và sự ngưỡng mộ thành kính của người trên.
Tình yêu của thi sĩ họ Hoàng trong "99 tình khúc" là tình yêu đặc biệt với những xúc cảm thẩm mỹ vừa trần thế vừa tôn giáo, vừa khao khát chiếm hữu và chiêm ngưỡng rụt rè, song tư thế cơ bản của thi nhân trong tình yêu là tư thế ngước nhìn lên. Những váy yếm xiêm y trong thơ ông là những vật thiêng luôn luôn được đặt lên cao lung linh như sao và phấp phới như cờ hội mà thi sĩ phải ngẩng lên mà chiêm ngưỡng như những vật thờ.
Những lược kể trong bài viết này chỉ nhằm nói lên một điều: Hà Nội thủ đô - trung tâm chính trị, văn hóa của cả nước, cũng là nơi hội tụ những khao khát phát triển và đổi mới thành tựu của tiểu thuyết, trong ngót 100 năm lịch sử của nó, để đến với những cái đích mới, trong đó có thời điểm 2010 - kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
Nhà thơ danh tiếng Anh Ngọc cứ tròn mắt nhìn tôi: “Cậu có mặt ở sân vận động thật à? Nghĩa là cậu xem trực tiếp bằng mắt, và nhìn thấy Maradona hiện hình bằng xương, bằng thịt ư? Ối giời! Cậu là người hạnh phúc nhất trên cõi đời này đấy! Cậu thấy Maradona như thế nào?..” Tôi còn biết nói sao với ông thi sĩ bóng đá Anh Ngọc. Đối với một gã mù đặc bóng đá như tôi, sân Foxboro chỉ là cái nong tằm nhộn nhạo. Vâng, nó đúng là một cái nong tằm. Có điều tằm nhiều mà dâu ít. Lúc nhúc có đến hơn hai chục con tằm hung hãn mà chỉ có mỗi một lá dâu non, là cái quả bóng mỏng dinh dính và bé như cái mắt muỗi. Thế nên cứ nháo nhào nhào. Làm sao tôi biết được con tằm nào là Maradona kia chứ. Xem ra, Liên đoàn bóng đá thật oái oăm và cái ông Pha pha gì ấy cũng là một gã keo kịêt. Trái bóng đâu có hiếm mà cũng đâu có đắt đến nỗi không mua nổi. Tại sao không tung ra vài chục quả cho anh em đá. Mỗi cầu thủ cứ chia cho vài quả. Tha hồ mà đá...
Báo Văn nghệ số 25 ngày 19-6-2010 có đăng bài của Vi Thùy Linh với tên “Đành gửi một người “người Việt” mơ hồ vắng mặt”. Bài báo đề cập đến nhiều vấn đề về học thuật, thẩm mỹ, chuẩn mực, cách nhìn nhận đánh giá một tác phẩm văn chương. Nhiều vấn đề về đổi mới, quan niệm, xu hướng cách viết còn đang phải bàn luận. Trong bài viết này tôi không muốn tranh luận các vấn đề trên, mà chỉ đề cập đến những vấn đề nhân cách ứng xử của người cầm bút.
Tôi đề nghị phân biệt khái niệm cốt truyện cổ điển với khái niệm truyện hay truyện kể hiện đại. Như thế, cốt tuyện trong ý nghĩa hiện đại không phải là thành phần của tác phẩm tự sự. Đối với thuật ngữ siuzhet trong tiếng Nga, tôi đề nghị từ nay không dịch thành “cốt truyện”, mà dịch thành truyện hay truyện kể, bởi dịch thành cốt truyện làm cho người đọc hiểu sai tư tưởng khoa học của nguyên tác. Đối với các dịch phẩm đã công bố thì nên hiểu là truyện hay truyện kể. Còn khi sử dụng thuật ngữ cốt truyện thì chỉ nên hiểu nó như chất liệu đời sống hay hiểu theo nghĩa cổ điển như chuỗi hành động thắt nút, mở nút, có một kết cục cụ thể mà thôi.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.