Nhìn ở góc độ văn hóa, Trịnh Công Sơn thực chất là một nhà nhân văn lớn của nước Việt. Nếu không bằng con đường âm nhạc, có lẽ ông cũng phải có một cách nào khác để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Là nhà văn, nhà thơ, hay là nhà yêu nước, nhà chính trị, xã hội,...ở vai trò nào, con người ấy phải là một anh hùng, một vĩ nhân. Nhìn ở góc độ ngôn ngữ, ông là một người có công trong việc làm giàu ngôn ngữ Việt. Trịnh Công Sơn đã rất thành công trong việc sử dụng thủ pháp tu từ so sánh ở các tình khúc của mình. Điều đó cho ta thấy một nhạc sĩ giàu có về vốn từ, biết làm mới ngôn ngữ Việt bằng cách thổi vào đó những cảm xúc chân thành, mãnh liệt của mình và của nhân loại.
Dù có là biện pháp tu từ so sánh hay là biện pháp tu từ ẩn dụ, nhân hóa đi chăng nữa thì tất cả không ngoài việc khẳng định nỗi buồn đau của Trịnh Công Sơn trong tình yêu. Cứ phải so sánh tình yêu với cái này hay cái khác: Tình yêu như biển/ Tình yêu như vô tận… gợi cái khoảng cách xa xăm, vô định như chẳng bao giờ với tới được. Đó chính là nỗi buồn muôn thủa của Trịnh Công Sơn mà ở ca khúc nào cũng phảng phất niềm đau đó.
Nhắc đến Sương Nguyệt Minh, nhiều người biết đó là một ông nhà văn mang trong mình 4 mối “hận” lớn, đó là: Chưa một lần được dự Hội nghị nhà văn trẻ toàn quốc, chưa được học Trường Viết văn Nguyễn Du, chưa in được truyện ngắn (vừa qua Tuanvietnam đăng lại bài viết này nhưng đã không chính xác khi đánh máy thành: "chưa in được tập truyện ngắn") trên báo Nhân Dân và chưa biết… làm thơ!”. Nhưng ít người biết cuộc đời ông nhà văn tác giả của những tập truyện ngắn Người ở bến sông Châu, Đi qua đồng chiều, Chợ tình,Dị hương… này còn có những câu chuyện… kì dị.
Một cái Tết với anh năm ấy đi vào hoài niệm ngọt ngào làm tổ trong tâm hồn tôi niềm thương nhớ khôn nguôi. Giờ đây, mỗi độ xuân về, Tết hoà bình tưng bừng, lòng tôi càng ngậm ngùi dậy lên nỗi nhớ Tết ở rừng mặn mà tình đồng đội thiêng liêng!
Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân giới thiệu: “Nhân ngày lễ tình yêu, xin giới thiệu với bạn đọc một bài viết về thơ tình từ cách nay trên 80 năm của nhà phê bình văn học Phan Khôi. Đúng thế, ở bài này Phan Khôi hiện diện như một nhà phê bình; ông vạch ra rằng bản sắc thực của những sáng tác dân gian sơ khởi của nhân loại là những bài thơ tình, về sau được tập hợp vào những bộ kinh điển của các tôn giáo, chúng đã bị giải thích khác đi, bị thần thánh hóa, bị gán những hàm nghĩa phù hợp các giáo điều; tuy thế, người ta vẫn có thể chỉ ra được thuộc tính ban đầu của nó là những bài thơ tình. Là người tiếp nhận Hán học từ nhỏ, Phan Khôi hiểu biết về Kinh Thi ở mức hơn hẳn nhiều học giả hậu sinh. Phan Khôi cũng từng dành nhiều năm để dịch Kinh Thánh cho dạo Tin Lành, cũng là bản Kinh dùng chung cho các phân nhánh của đạo Thiên Chúa (Tin Lành, Công giáo, Chính thống giáo, v.v…). Do vậy, có thể tin rằng, việc Phan Khôi chỉ ra bản chất “tình thi” ở một số tác phẩm được đưa vào kinh điển, dù của Nho giáo phương Đông hay Thiên Chúa giáo phương Tây, đều là sự nhân định có căn cứ chắc chắn, không phải là những ấn tượng thoáng qua. Xin giới thiệu với bạn đọc!”
Bà kể: Tôi viết “Bức tranh quê” khi hay tin báo “Ngày nay” có tổ chức cuộc thi và thời hạn chỉ còn một tháng. Bố tôi không cho tôi theo con đường văn thơ nên để canh chừng ông chị Sen phân công các em tôi mỗi đứa canh một bậc thang cào lúc bố tôi ngủ trưa trên gác hễ nghe tiếng động là báo ngay. Tôi viết bằng bút chì với quyển sổ nhỏ để dẽ dấu. Mỗi buổi trưa tôi làm xong một bài. Chưa biết yêu nên tôi không thể làm thơ tình như Xuân Diệu, hoặc làm thơ Bạch Nga mười hai chân như Nguyễn Vĩ, mà chỉ làm thơ tả cảnh quê hương mình đang sống. Nghĩ đến đâu, thích cảnh gì , tôi làm thơ về cảnh ấy. Làm rất nhanh. Đúng ngày hết hạn nộp tôi viết xong 30 bài. Trong cuộc thi đó tôi đã được giải cao (cùng Nguyễn Bính). Tôi vẫn còn nhớ cảm xúc hân hoan của mình lúc ấy. Vừa tự hào, vừa lo sợ. Vì từ bé tôi có bao giờ rời bến sông Thương để đến chốn Hà Thành đô hội , giờ lại được mời lên tòa soạn báo Ngày nay nhận giải thưởng , được gặp các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng. Như từ dưới đất chợt bay bổng lên mây vậy. Số tiền thưởng lúc đó được trao là 30 đồng. Mà gạo lúc đó một tạ chỉ có ba đồng. Tức giải thưởng trị giá đến một tấn gạo.
Viếng mộ thi nhân ở Huế được tổ chức lần đầu tiên vào Ngày thơ Việt Nam năm 2007. Các văn nghệ sĩ Huế thấy đây là chương trình có ý nghĩa nhân văn lớn trong việc “ôn cố tri tân”, nên đã quyết định “từ nay trở lên” , đến Ngày thơ Việt Nam hàng năm đều có tổ chức viếng mộ thi nhân tại Huế . Đã thành lệ, đây là lần thứ tư các nhà văn Huế đi viếng mộ thi nhân trong Ngày thơ Việt Nam. Chúng tôi cho rằng, Ngày thơ Việt Nam là ngày Chào Lá cờ Thơ, ngày “Giỗ Thơ”, nên đi viếng mộ thi nhân là việc đầu tiên phải làm. Và ở Huế , viếng mộ thi nhân trong ngày thơ Việt Nam đã thành một mỹ tục.
Sáng Rằm tháng Giêng - Nguyên tiêu xuân Tân Mão, tại sân Nhà Bảo tàng Quảng Ngãi, Hội VHNT tổ chức trong thể Ngày thơ VN với chủ đề "Những dòng sông quê hương" gồm những sáng tác thơ ca và âm nhạc về những dòng sông đã đi vào lòng bạn đọc nhiều thế hệ. Cũng tại đây, buổi tối Rằm tháng Giêng sẽ diễn ra đêm thơ - nhạc gồm những sáng tác của các nhà thơ và nhạc sĩ trong tỉnh. Nhân Ngày thơ VN tại Quảng Ngãi xuân Tân Mão, Bichkhe.org xin giới thiệu hai cảm nhận của nhà thơ Thanh Thảo và TS Mai Bá Ấn.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.