Thiện nói với Nh. Tay Ngàn :” tao vốn là một thằng kiêu ngạo và tao chẳng từng nói với mày rằng tao có thể làm bất cứ những gì mà con người đã có thể hay sẽ có thể làm được trên đời này? Shakespeare hay Goethe, Dante hay Heidegger, tao coi như những thằng hề ngu xuẩn. Tao có thể nói như thế được, vì ngày xưa tao đã từng tôn thờ những tên ấy như là những gì bất khả xâm phạm trên đời này. Ngay đến Héraclite, Parménide và Empédocle, bây giờ tao cũng xem thường, xem nhẹ; tao coi ba tên ấy như là ba tên thủ phạm của nền văn minh hiện nay; chưa nói đến Socrate, đó là một tên ngu dại nhất mà tao đã gặp trong đời sống tâm linh của tao.
Trịnh Công Sơn - Bob Dylan, như trăng và nguyệt? Cái tựa sách thật éo le, vừa ỡm ờ vừa nghiêm chuẩn - "...như trăng và nguyệt?", lẩy theo lời Nguyệt ca của họ Trịnh (từ khi trăng là nguyệt/ từ trăng thôi là nguyệt...), mà điểm nhấn chính là dấu hỏi đầy ý tứ treo như một cái móc câu.
Đọc bài thơ viết về mẹ của Võ Văn Trực, tôi không khỏi liên hệ tới bài thơ "Bên mồ mẹ" - cũng về đề tài trên của nhà thơ Tế Hanh. Bài thơ ngôn ngữ thật giản dị. Tác giả chỉ một đôi nét phác họa mà sao sức gợi của nó thật lớn. Bài thơ này ra đời sau bài thơ của Võ Văn Trực 3 năm. Cũng tâm trạng bơ vơ, côi cút của một người con mất mẹ, nhưng cách kết bài của Tế Hanh thì lại thật giàu sức khái quát: "Cúi đầu từ biệt mẹ/ Từ biệt cả làng quê/ Quê mẹ không còn mẹ/ Bao giờ con lại về?". Chỉ mấy lời giản dị vậy thôi mà như khía vào trái tim người đọc, có sức lay động mạnh. Không chỉ vậy, nó còn nâng bài thơ lên một tầm cao khái quát. Bài thơ vì thế đã vượt ra khuôn khổ bài thơ của một người con viết riêng cho mẹ của mình...
Giá như tôi có dịp gặp và nói với anh linh của Emily Dickinson, tôi chắc rằng bà sẽ hài lòng được biết về thơ ca Việt Nam mà tôi thật may mắn đã được đọc và nghiên cứu. Dẫu hiểu biết của tôi về truyền thống và thơ ca ấy hạn chế, tôi sẽ bắt đầu bằng việc giới thiệu với bà về Nguyễn Trãi. Tôi muốn nói với bà về một bài thơ rất nổi tiếng mà tôi và Nguyễn Bá Chung bạn tôi đã cùng dịch sang tiếng Anh vài năm trước.
Đó là thế hệ dò tìm, phác họa chân dung, gương mặt của chính mình sau chiến tranh. Nói cách khác, giả sử cha anh chúng tôi đã sinh trưởng vào thời điểm như chúng tôi, thế hệ của e-mail, chat, internet…, khi thông tin đang mở rộng và thu hẹp lại thế giới, thì chắc họ cũng phải trăn trở, cũng phải thể nghiệm như chúng tôi.. Dò tìm gương mặt mới của thế hệ “
Nhà phê bình Đỗ Ngọc Yên đánh giá: “Dương Kiều Minh được ghi nhận như một trong những nhà thơ có nhiều đóng góp trong quá trình cách tân thơ Việt từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 thế kỷ trước. Các tác phẩm thơ của ông gồm: “Củi lửa”, “Dâng mẹ”, “Những thời đại thanh xuân”, “Tựa cửa”, đã in trong “Thơ Dương Kiều Minh”, “Tôi ngắm mãi những ngày thu tận”, “Khúc chuyển mùa” đã in trong “Thơ Dương Kiều Minh”. Đây là cuốn sách tập hợp đầy đủ nhất các tác phẩm thơ của ông từ trước đến nay. Có lẽ Dương Kiều Minh là một trong những người hiếm hoi thuộc thế hệ các nhà thơ hậu đánh Mỹ đã dành trọn cả cuộc đời mình cho sáng tạo thi ca, đặc biệt là quá trình đổi mới thi pháp thơ. Còn những công việc khác đối với ông chẳng qua chỉ là “áng mây sà buổi mai”. Điều quan trọng là, dường như đã biết trước được mệnh Trời, nên ông đã lĩnh trọn “trách nhiệm” cao cả ấy với một tinh thần tự giác cao và thỏa nguyện, để rồi ứng xử với nó một cách hết sức tự nhiên, nghiêm túc và có văn”
Mẹ ơi, chỉ sau vài phút tâm sự với mẹ mà con đã vững tâm để đưa ra quyết định rồi: ĐI ! Nói đến đây, con lại nhớ đến một câu thơ mà cũng ở trong nhật ký của me: “Người ra đi đầu không ngoảnh lại / Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy…” Mẹ ơi, tại sao Người Hà Nội nào khi phải ra đi cũng nghĩ đến câu thơ ấy? Mà sao từ ngày mẹ có người yêu mới, mẹ hay thơ với thẩn thế? Mà lại yêu một nhà thơ nữa cơ chứ, may mà nhà thơ này lại giàu cỡ tỉ phú không thì mẹ chết đói mất!...
Để tỏ lòng cảm mến và khâm ngưỡng THI SĨ BÙI GIÁNG, một tâm hồn nhạy cảm đa lụy, một cây bút độc đáo- và đặc biệt- có cách ứng xử với thơ, với đời chẳng giống ai nhưng không hề khinh thế ngạo vật, THỜI VĂN dành một đặc tuyển viết về ông. Đại diện nhóm chủ biên đã đến thăm ông và may mắn được ông ngẫu hứng nói cho nghe khá nhiều chuyện cảm động của một đời thơ phong phú bi hài, đồng thời cũng được ông sẵn lòng trả lời tương đối đủ những điều muốn biết chung của văn giới và độc giả hôm nay. Hy vọng những HỎI ĐÁP này sẽ giải tỏa phần nào những thắc mắc bấy lâu…
Một nền thơ lớn là một nền thơ có nhiều phong cách. Chưa có phong cách thì chưa thể nói đến một nền thơ. Và phê bình thơ, trước một đối tượng như vậy, quả là vô nghĩa. Phát hiện ra giọng điệu riêng, phong cách riêng – nó là cái tinh tuý, cái đặc sắc của mỗi nhà thơ, để không lẫn với ai – đó là mục tiêu của phê bình thơ.
Mới đây gặp nhà thơ Thi Hoàng, tôi thấy ông có vẻ ngầu hơn, với bộ ria rậm và chiếc răng nanh hổ lủng lẳng treo trên ngực, chứ không còn hình ảnh rắn rỏi, mặc áo xanh công nhân, mà tôi gặp lần đầu cách đây hơn 30 năm, cùng với chiếc xe đạp phải phanh bằng chân, trên đường phố Hải Phòng. Nhưng đến nay sự đổi mới về giao thông của ông vẫn là số không, bởi ông vẫn tòng teng dạo phố, với xe đạp cũ chỉ vài trăm ngàn.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.