Nói như giáo sư, viện sĩ, tiến sĩ Phạm Minh Hạc thì nhà giáo nhân dân, giáo sư Nguyễn Lân là “một trong số những nhà giáo tiêu biểu nhất của nước nhà”. GS. Nguyễn Lân đã vinh dự được nhận danh hiệu Nhà giáo nhân dân ngày 11-11-1988 và trên thực tế GS đã đào tạo được nhiều thế hệ học trò, có những người rất thành đạt. Giáo sư Nguyễn Lân đã đóng góp cho lĩnh vực khoa học xã hội ở nhiều phương diện: giảng dạy, viết sách về các lĩnh vực: giáo dục, lịch sử, ngôn ngữ, làm từ điển, dịch thuật v.v…
So với các dân tộc thiểu số khác, thế hệ sáng tác trẻ Chăm có đôi chút may mắn hơn. Khởi đầu cuộc viết, họ được trang bị hành trang văn học dân tộc khởi từ nỗ lực không mệt mỏi của mấy thế hệ nhà nghiên cứu trước đó, để cuối cùng quy tập ở bộ Văn học Chăm, khái luận - văn tuyển ba tập ra đời vào năm 1995. Đó là nền đất họ đã đứng, đứng để có thể tự tin bước đi.
Trong bài viết này, chúng tôi muốn nhìn nhận những cống hiến của GS.TS Lê Huy Bắc trên lĩnh vực khoa học, đây là những thành tựu mà theo chúng tôi, vừa có tính lan tỏa, lại vừa có tính bền vững. Bởi vì, có thể nhiều học viên, nhà nghiên cứu dù không trực tiếp được nhà khoa học giảng dạy, hướng dẫn, nhưng từ những công trình, bài báo khoa học, vẫn được kế thừa và chịu sự tác động từ người thầy đó.
Hãy nhớ điều mà tất cả các học giả về Dostoyevsky đều đồng tình:Bút ký dưới hầmlà điểm xuất phát cho Tội ác và hình phạt và những tiểu thuyết lẫy lừng sau đó; đó là cuốn đầu tiên ông tìm ra được giọng thật của mình.
Phong thái sống của ông dẫu có bị thời thế mới làm cho chao đảo ít nhiều nhưng vẫn còn nguyên cốt cách của ngày xưa. Và thơ ông vốn trung thực với hồn ông nên nó cũng mang cốt cách như vậy. Đó là một con người dẫu ngoài cửa miệng có nói gì thì nói, trong đáy lòng vẫn nguyên vẹn một niềm tin vào những giá trị cao quý bất di bất dịch của phẩm giá con người, cái niềm tin khiến ta còn nhớ mình là ai và không chịu để tuyệt vọng biến mình thành giẻ rách. Điều đó giữ cho tâm thế của lớp người này mang sẵn một niềm lạc quan từ trong gốc rễ. Bài thơ mà ta đang nói tới ở đây - bài “Thề non nước” - thấm đẫm tinh thần đó.
Từ năm 2000 tới nay, trong khoảng gần 15 năm các tác phẩm của nhà văn nhà báo Vũ Bằng (1913-1984) được phép trở lại “sống” với công chúng và giới văn nghệ chúng ta (nghĩa là tác phẩm Vũ Bằng được phép in lại, nhân thân và văn nghiệp Vũ Bằng được phép đưa ra bàn luận công khai),
“Cảo thơm lần giở trước đèn”, mấy trăm năm qua rồi vẫn còn thơm giữa chốn trần ai bao nỗi. Đọc truyện Kiều, thấy một đại thi hào của dân tộc lặng lẽ trong cô phòng, bên bàn văn ươm những vần thơ gieo về bãi bể nương dâu.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.