Dương Kiều Minh ít làm thơ “cách luật” mà thường làm thơ tự do và sau này thiên về thơ văn xuôi. Thể loại thơ văn xuôi có khả năng nới rộng hơn hiện thực cuộc sống được miêu tả, đồng thời giúp ông dễ bề thể hiện một cách thoải mái hơn “dòng ý thức” của mình, khai phá những bí ẩn trong đời sống tâm linh của con người.
Sau biết bao chìm nổi thăng trầm suốt một trăm năm qua, di sản Hàn Mặc Tử ngày càng chứng tỏ một sức sống không thể vùi dập, một giá trị không thể quên lãng. Chúng ta đã có thừa căn cứ để khẳng định Hàn Mặc Tử là một thiên tài thi ca. Nhìn cuộc đời và thi nghiệp của thiên tài này từ cái nhìn hôm nay, chúng ta có thể rút ra nhiều bài học quí giá đối với việc sáng tạo.
Đọc bản dịch thơ của Hoàng Xuân Hãn, có người lấy làm lạ bởi sao câu cuối lại dịch : “một cành mơ”. Đáng ra chữ “nhất chi mai” phải dịch là “một cành mai ” ?.
“ Đừng đùa với thơ, cũng đừng lợi dụng thơ để thực hiện một ý đồ gì đó cho cá nhân, thơ sẽ quật chết liền. Đến với thơ, phải sống chết với thơ, coi thơ là cái nghiệp mình phải theo suốt đời… may ra mới được một chút gì đó, trường hợp nhà thơ Hàn Mặc Tử là một ví dụ điển hình …”.
Nhập nhoạng buổi đông muộn năm 89 ở nhà cụ Kim Lân chỗ ngõ Hà Hồi lần đầu tôi được gặp cụ Thanh Châu. Buổi gặp có lắm cái à... Thì ra nhà cụ ở Trần Quốc Toản gần Hà Hồivới cụ Kim Lân. Lại nữa, thày giáo tôi, GS Hà Minh Đức một lần có nhắc mà tôi quên bẵng đi là cái làng của cậu có ba người mà tôi nể là cụ Thanh Châu, tiến sĩ toán học hiện ở Paris là Lê Dũng Tráng, cháu của cụ Đốc học Lê Văn Bích và nghệ sĩ hát tuồng Lê Tiến Thọ...
Mấy tháng trước khi ba tôi còn tại thế, cả ông và tôi nghe mọi người bàn tán về nơi dành cho nhà thơ cuối cùng của Tứ Hữu Bàn Thành. Người này bảo « Họ sẽ đưa ông vào nghĩa trang tỉnh ở Qui Nhơn, người kia nói “Họ sẽ đặt ông cạnh Hàn Mặc Tử, để sau này nếu thuận lợi sẽ qui tụ toàn bộ “Tứ Linh” về nơi này, lập nên “Đồi thi nhân” trong quần thể du lịch của Thành phố biển v.v…”.
Là một cây bút đầy cá tính, cũng đầy chất Quảng Nam cả trong thơ và văn xuôi. Xưa nay, ta quen đọc Phùng Tấn Đông thơ, và biết nhiều đến Phùng Tấn Đông qua các hoạt động, nghiên cứu văn hóa. Nay, thử cùng Phùng Tấn Đông truyện ngắn xem sao (MBA)
Trưa ngày thứ bảy vừa qua 22-9-2012, chúng tôi được mời đến ăn giỗ, tưởng niệm 5 năm này mất của nhà thơ Trịnh Thanh Sơn (2007-2012). Đến dự, cao tuổi nhất có nhà văn Xuân Cang (người tiếp sau nhà văn Võ Huy Tâm là hai nhà văn hàng đầu của đề tài công nghiệp trong văn học đương đại). Có nhà thơ Vũ Duy Thông, họa sĩ Lê Huy Quang ( là hai nhân vật đóng góp nhiều nhất cho “Trịnh Thanh Sơn toàn tập”), nhà văn Đặng Ái, dịch giả Lê Bá Thự, nhà báo Đinh Trọng Tuấn - Tổng biên tập Tạp chí Thế giới Điện ảnh, nơi Trịnh Thanh Sơn công tác… cùng một số bạn nhà văn nhà báo khác. Gói “lộc” chúng tôi mang về nặng hơn 4 ký, mỗi người đều phải bê bằng hai tay: Đó chủ yếu là cuốn “Trịnh Thanh Sơn toàn tập” mới hoàn thành còn ấm tay những người làm sách, có thể đưa vào ghi-nét của các nhà thơ: Cuốn sách bìa cứng, khổ 16-24, dầy 2.668 trang. Về đến nhà, sẵn bàn cân để gần cửa, tôi thử đặt lên: 4,1 kg.
“Khuôn lưng” hay “khuôn trăng”/ “nét ngài” hay “nét người”? Câu hỏi làm tốn nhiều giấy mực. Hàng mấy chục năm qua, người đọc thơ nêu nhiều thắc mắc xoay quanh những lí giải khác nhau giữa các công trình biên soạn của các học giả đã chú thích, hiệu đính Truyện Kiều bằng quốc ngữ. Bên cạnh những biên soạn của những người danh tiếng như Trương Vĩnh Ký, Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, Đào Duy Anh, Nguyễn Thạch Giang, Nguyễn Quảng Tuân, Nguyễn Tài Cẩn… lại xuất hiện một số bài viết với các luận đoán sai vì chủ quan, vì chỉ biết Truyện Kiều qua chữ quốc ngữ, không hiểu được cái phức tạp trong cấu trúc chữ nôm.
-Như thông tin trênTT&VHra ngày 18/9/2012(Câu chuyện đi tìm bản in đầu tiên tập thơ Gái quê)liên quan tới số phận tập thơGái quêcủa Hàn Mặc Tử,TT&VH Cuối tuầnđã có cuộc trò chuyện với nhà phê bình văn học Đặng Tiến, người có công tìm ra ấn bản trọn vẹn của thi phẩm này, vừa được công ty Phương Nam và NXB Hội Nhà văn ấn hành nhân kỷ niệm 100 năm sinh Hàn Mặc Tử (22/9/1912 -22/9/2012). Ngoài 34 bài (khác với bản phổ biến hiện hành, có 21 bài), ấn phẩm mới này còn có 170 trang biên khảo của Đặng Tiến về nhà thơ họ Hàn.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.