Hồi tưởng tháng Giêng hay là những liên tưởng miên man dẫn dụ thi sỹ đến miền khai phá cảm xúc mới? Thế giới đó luôn mang trong mình những bất ngờ, bí ẩn, đầy hấp dẫn… Để “giải mật” được nó, cần phải có một trái tim nồng ấm và tâm hồn trong veo. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều dường như đã đến tận nơi đó, đã trở về và kể lại bằng những hồi tưởng…
Lý lịch nhà văn Nguyễn Quang Sáng, ghi: Ông sinh ra ở xã Mỹ Luông (nay là thị trấn), huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Thực ra, xã Mỹ Luông là quê ông, còn nơi ông cất tiếng khóc chào đời lại là cù lao Giêng - một cù lao nằm giữa các nhánh sông thuộc huyện Chợ Mới, đến nay muốn ra cù lao Giêng vẫn phải đi trên một con phà nhỏ.
Con người tưởng như xưa cũ ấy, người tưởng như lạc lõng giữa một trào lưu không gì cưỡng lại ấy lại tìm ra lối đi riêng cho mình để trở thành một trong những ngôi sao sáng nhất của cuộc cách tân thi ca giữa lòng thế kỷ 20 - Thi sỹ của đồng quê Nguyễn Bính.
Văn học chống Mĩ chứa đựng sự đa dạng về nhiều phương diện. Tuy nhiên, những mầm mống của một “thế nhân đa sự” trong mười năm sau giải phóng ở miền Bắc và đặc biệt là cá tính sáng tạo đã giúp các nhà văn có những bước đột phá.
Bài viết này chủ yếu giải quyết vấn đề về tác giả của nguyên tác Hán văn của bài ca Hồ trường hay Nam phương ca khúc mà ta thường gọi, là người Việt Nam, không phải của người Trung Quốc mà bấy lâu ta lầm tưởng.
Làng Quỳnh Đôi có nhiều xóm. Cùng với xóm Ao, xóm Đình, xóm Bà Cả, xóm Chợ Nồi, Bờ Rậm… còn có xóm Điếm. Gọi là xóm điếm vì xóm ở đầu làng, có cái điếm canh của làng. Xóm Điếm là xóm quê của bà Chúa Thơ Nôm - nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Cái tên Xóm Điếm từ bao lâu nay đã cùng con em mình đi khắp bốn phương trời. Và, địa danh này mới đây đã đứng tên cho một tập thơ của năm người con xóm mình. Đó là Thơ Xóm Điếm của Dương Huy, Văn Như Cương, Hồ Phi Phục, Dương Danh Dũng, Lam Giang.
Những năm từ 1975 về trước khi đang công tác tại tạp chí Văn Nghệ quân đội , tôi thường có dịp trò chuyện với Nguyễn Minh Châu . Ấn tượng để lại trong tôi sau các buổi nói chuyện này sâu đậm tới mức tôi phải thường xuyên ghi chép trong một cuốn sổ riêng . Dưới đây là những suy nghĩ của tác giả Dấu chân người lính về nhiều vấn đề nghề nghiệp mà tôi đã nghe và ghi được . Mỗi lần đọc lại, tôi vẫn hằng tin rằng ghi chép này không chỉ có ích cho những ai muốn hiểu về ông mà còn là những gợi ý để cùng hiểu về một lớp người viết văn và một giai đoạn văn học
Vấn đề là anh dùng ngôn ngữ gì và cách nhìn nào, quan trọng nữa, đích của sáng tạo ở đâu, chất văn hóa, cá thể và loài, tự do và xã hội, và v.v…ra sao – mới biết anh là ai, đại diện cho ai, và vì ai mà viết.
giữa vô vàn những lựa chọn học thuật có tính “an toàn”, “bằng phẳng” hơn cho sự nghiệp, GS.TS Lê Huy Bắc đã chọn lấy “cột đèn” hậu hiện đại đầy gian truân, nghi ngờ và cả những phản đối của không ít người. Nhưng cũng vì cách lựa chọn dũng cảm ấy giữa những ngã tư, nên tính độc sáng của ông trong nghiên cứu lại được thừa nhận rộng rãi.
Một con người đã từng đau lòng đứt ruột vì cha bị giặc Tàu bắt đem đi, từng nằm gai nếm mật trong rừng sâu suốt mười năm trời kiên trì nhẫn nhục, từng tung hoành ngang dọc khắp chiến trường máu lửa để chống giặc ngoại xâm, từng bàn luận việc quốc gia đại sự với hoàng đế Lê Lợi, từng viết Bình Ngô đại cáo, bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt, từng vào sinh ra tử như Nguyễn Trãi, khi treo ấn từ quan không phải vì chán đời mà để cho chí khí, tâm huyết của mình hoà quyện vào tạo vật thiên nhiên.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.