Chúng ta đã đi qua thời kỳ Thơ mới, từ đầu thời kỳ ấy cho đến nay, giữa nghệ thuật sáng tạo và nghệ thuật cảm thụ đã xác lập được mẫu số chung. Nói một cách khác, giữa người làm thơ và độc giả đã tìm thấy được sự đồng cảm sâu sắc. Với thơ hiện nay điều đó có lẽ còn xa lắm, bằng cách nào để nghệ thuật sáng tạo và nghệ thuật cảm thụ“xích lại gần nhau”? Bài viết này xin lấy thơ ra làm ví dụ, mong với đến một điều xa hơn nữa…
Các nhà lý luận phê bình của chúng ta ngoài hoạt động chuyên môn học thuật nên là con người sống trọn vẹn với thời của mình, hơn thế nữa, cần phải “canh cánh nỗi lo toan” cho số phận nền văn học của mình, nhân dân và dân tộc mình. Với nhiều người giờ đây đó không chỉ là những câu khẩu hiệu sáo mòn, mất hết sinh khí ngữ nghĩa, mà là những tâm sự chân thành, trải nghiệm và khắc khoải. Bài viết của dịch giả nổi tiếng, TSKH Phan Hồng Giang sau đây có thể coi là một minh chứng, ông nói với các nhà văn, cũng là với tất cả chúng ta. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Ngay từ năm 1972, Hoàng Trần Cương đã nhận được giải thưởng cao của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, không phải tác phẩm thơ mà là văn xuôi: Ký sự Hạnh phúc hôm nay(in năm 1971). Cùng năm ấy, Nhà xuất bản Lao động xuất bản tập truyện ngắn Dư âm (in năm 1976) của Hoàng Trần Cương. Văn xuôi của Hoàng Trần Cương hồi chiến tranh nhiều chi tiết chắt lọc, lạ lẫm, được thốt lên từ một giọng khá điềm tĩnh chứ không hồi hộp quá như thơ anh sau này.
Như một cách chia sẻ với tài hoa hẩm hiu, năm 2003, NXB Văn Học in tập Thơ Chu Hoạch, nhận được khá nhiều sự tán thưởng của đồng nghiệp văn giới. Tập thơ này vẫn được Chu Hoạch gọi là tập Trắng. Vì sao Trắng? Vì sao chữ Em trong mỗi bài luôn viết hoa trang trọng? Phải chăng vì “giờ đây vừa vẽ những mặt người, mắt tôi vừa không ngừng rơi lệ” hay vì “nghe ngày trôi trong nếp áo phập phồng” ? Muốn hiểu Chu Hoạch, cách đơn giản nhất mà cũng thú vị nhất, là bình tâm đọc thơ Chu Hoạch, những câu thơ còn ở lại cõi dân gian bịn rịn thay cho một kiếp người đã vẫy tay vào cõi mù khơi…
(Lý luận văn học): Trong việc mô tả lịch sử văn học theo quan điểm chính thống hiện nay, vấn đề Nhân văn – Giai phẩm không phải là đề tài “cấm” nhưng vẫn “kỵ”, một ám ảnh vô lý, vì hầu hết các nhà văn trong phong trào đó đã được khôi phục, nhiều người được nhận, (truy nhận) Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, một số được giải Hồ Chí Minh. Hiện thời, những công trình quy mô và chuyên sâu về đề tài này lại thuộc về các nhà nghiên cứu nước ngoài. Các tác giả nước ngoài có nhiều thế mạnh, nhưng dù sao vẫn thiếu sự hiểu biết của “người trong cuộc”, nhất là đối với một sự kiện cách nay hơn nửa thế kỷ trong không gian văn hóa Việt Nam vốn nhiều “tuế toái”. Vừa rồi học giả Mỹ – Peter Zinoman, Giáo sư Khoa lịch sử ở Đại học Berkeley – có cho xuất bản một cuốn sách về phong trào NVGP, nhân để trao đổi với nhà nghiên cứu Mỹ tác giả Trương Quang Đệ trong nước có công bố bài viết dưới đây. Thấy trong bài có một số ý kiến gợi mở hợp lý, chúng tôi cho đăng lại để các nhà nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam cùng suy ngẫm (có cắt bỏ một số đoạn khó kiểm chứng).
Ngày 24 tháng 9 năm 2007, tờ An Ninh Thế Giới cuối tháng (số 74) phát hành buổi sáng có bài “Họa sĩ Chu Hoạch một thân, phận như tôi biết” của Nguyễn Viết Bình, thì buổi chiều Chu Hoạch bị ngã tại nhà trọ và đến đêm thì rơi vào hôn mê sâu. Nhà thơ – họa sĩ Chu Hoạch đã không tỉnh lại nữa cho tới 10 ngày sau (24/8 âm lịch) thì anh mất ở Bệnh viện quân đội 354. Nhân ngày giỗ nhà thơ – họa sĩ Chu Hoạch, lethieunhon.com xin giới thiệu lại bài báo run rủi như một điếu văn ngày ấy, và bốn bài thơ của Chu Hoạch do nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc ghi lại theo trí nhớ, để công chúng hiếu thêm một con người tài hoa lận đận “tôi công nhận, em hoàn toàn có lý. Thơ chửa bao giờ có thể nuôi ai. Xưa đã thế và nay vẫn thế. Cơm mới cần cho hai bữa mỗi ngày"
Sự xuất hiện của thơ trẻ ĐBSCL trong những năm gần đây đã phần nào thể hiện sinh động, rõ nét những nét đẹp văn hóa, tinh thần đặc sắc ấy và đã hòa vào dòng chung của văn học trẻ cả nước như một dòng chảy lặng lẽ, lấp lánh vẻ riêng và ăm ắp phù sa…
Viết tiểu luận phê bình, sáng tác truyện ngắn, hôm nay, tôi lại gặp một Đỗ Ngọc Thạch thơ. Thơ anh chứa triết lý bề sâu, đậm chất nhân sinh nhưng vẫn dồi dào cảm xúc "giữa Sài Gòn ồn ào cuồng nhiệt/ vài bức tranh Phái Phố nhỏ nhoi/ cũng đủ để những người tha hương ôm nhau thân thiết/ khi cùng nhận ra nhau: Người Hà Nội đây rồi!". Bichkhe.org xin giới thiệu 1 chùm thơ về Hà Nội của Đỗ Ngọc Thạch cùng bạn đọc trong và ngoài nước (TS Mai Bá Ấn).
Ở Miền Trung, sau 1975, phê bình hoàn toàn thiếu hụt so với hai đầu đất nước. Đa phần các nhà thơ, nhà văn vừa sáng tác vừa phê bình như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đông Trình, Thanh Thảo, Hoàng Vũ Thuật, Mai Văn Hoan, Nguyễn Trọng Tạo, Thạch Quỳ, Hồng Nhu, Nguyễn Khắc Phê… . Về sau, miền Trung mới có những người chuyên sâu về phê bình như Lê Quý Kỳ, Hà Quảng, Hồ Thế Hà, Phạm Phú Phong, Mai Bá Ấn, Trần Hoài Anh,… Đến thế hệ 7x, đáng chú ý có nhà phê bình trẻ, TS. Trần Huyền Sâm.
Giọng Nu bỗng lạc đi. Hình ảnh buồn đau quá vãng dội về, dựng nguyên hình: những vùng đất phọt lên, tan tành, tơi tả, mù mịt giữa bụi máu ngòm ngòm… Hình ảnh dễ thương hơn: ba Nu cắm phập những nhát cuốc chắc nịch xuống lớp cỏ xanh rì. Rồi cúi nhặt mảnh đạn tung vào cái giỏ mang sau lưng, không cần nhìn ngó. Một trăm cái mảnh, Nu chưa hề thấy mảnh nào ba tung chệch khỏi miệng giỏ. Ba Nu từng chạy băng băng dưới làn bom đạn năm Bảy hai giữa mùa hè đỏ lửa. Một trăm quả bom đuổi theo ba Nu đều không kịp. Nhưng nó sẽ phục thù. Nó giả câm nằm trong đất chờ tới ngày được thét lên giữa trời đất bao la để trút bỏ mọi nỗi ấm ức cùng sự hận thù mà chủ nhân của nó đã gắn vào như một nghiệp chướng khôi hài...
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.