Thưa rằng, trong thơ của nhà thơ nữ Cát Du có rất nhiều ma. Ta sẽ cùng nhau khảo sát để xem thơ Cát Du có loài ma nào trong các hệ ma sau: ma lực, ma bút, ma trận, ma thuật, ma xó, ma trơi, ma men, ma túy, ma-ki-ê (maquiller), ma-măng (maman), ma-ra-tông (marathon)…
Nhà văn Nguyễn Văn Thọ gửi gắm tâm sự: Từ nước Đức xa xôi, tôi đọc báo Văn Nghệ Công An có bài “Sự gắn bó máu thịt giữa nhà văn với đất nước“ của tác gỉa Hồng Thái, nhân dịp cố thi sĩ Phạm Tiến Duật được Nhà nước ta truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, tôi rất xúc động. Ngồi trong đêm tôi nhớ tới khuôn mặt trầm tư của Phạm Tiến Duật ở buổi ban đầu gặp anh. Tôi không cầm lòng đặt bút kể một mầu chuyện nhỏ giữa chúng tôi âu cũng góp thêm nét về con Người Thơ này với vài suy nghĩ của cá nhân.
Năm 1942, Đoàn Phú Tứ giữ vai trò quan trọng, cùng với nhà văn Nguyễn Lương Ngọc, nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh, họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát và nhà thơ Phạm Văn Hạnh đã lập nên nhóm Xuân Thu nhã tập... Đấy là một hiện tượng văn nghệ mà nhiều thập kỷ sau người đời vẫn nhớ, và nhớ nhất là bài thơ Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ mà Hoài Thanh và Hoài Chân bình giá: "Trong thơ ta có lẽ không có bài thơ nào khác tinh tế và kín đáo đến thế!".
Trong nền thơ ca đương đại Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều được coi như là một nhà cách tân, làm dấy lên những cuộc tranh luận đa chiều. Nhân dịp Viện Văn học tổ chức cuộc Tọa đàm: Thơ Nguyễn Quang Thiều trong sự đổi mới thơ Việt Nam đương đại, Tạp chí Nhà văn xin trân trọng giới thiệu hai bài viết của nhà thơ Mai Văn Phấn và PGS Hồ Thế Hà về thơ Nguyễn Quang Thiều.
Nhà thơ Hoàng Hưng: “Cách tân trước hết là phải cách tân cho chính mình chứ không phải cho ai cả. Trước đây thơ tôi có ảnh hưởng lãng mạn, nhưng khi thời đại thay đổi, tâm trạng thay đổi thì thấy cái giọng đó không hợp nữa thì phải đi tìm cách diễn đạt khác. Vấn đề cách tân là để diễn đạt tâm trạng mới của mình bằng ngôn ngữ hay thi pháp mới, chứ không phải mình cố tìm cách cách tân cho mọi người. Vấn đề là đòi hỏi tự nhiên trong tâm hồn mình, nó đòi hỏi sự đổi mới nên phải tìm hình thức thích hợp. Tôi lại là người hay có thay đổi trong tâm trạng, cũng có thể do đọc nhiều nên rõ ràng cảm thấy không thể dẫm chân mãi theo những vết cũ được. Đi tìm tòi để thay đổi cũng chỉ là một cách học hỏi thôi chứ có sáng tạo gì đâu. Lúc trẻ thì xông xáo, tìm kiếm, nhưng đến tuổi nào đó thì lại thấy có nhu cầu phải cân bằng trong nội tâm của mình...”
Đọc thơ Thu Nguyệt, ta có cảm giác, một vùng tiềm thức của tác giả đôi lúc bị kích hoạt nhưng chưa đủ độ hưng phấn để thoát khỏi trạng thái tiềm ẩn. Hình như, chính bởi trạng thái mù mờ ấy mà tác giả có được những câu thơ trời cho.
Năm 2012, Hội nhà văn Việt Nam đã trao hai giải thưởng thơ cho hai tập thơ: “Bầu trời không mái che” của nhà thơ Mai Văn Phấn và “Hoan ca” của tác giả trẻ Đỗ Doãn Phương, gây nhiều phản ứng trên văn đàn, khen thì ít mà chê thì nhiều. Nhân đọc kỹ hai tập thơ này, chúng tôi (Trần Mạnh Hảo) mạn phép bàn thêm về tiêu chí chọn giải thưởng của hội nhà văn Việt Nam: lấy cách tân thơ làm mục đích hay lấy chất lượng thơ (thơ hay) làm mục đích? Đọc qua hàng chục bài khen, hàng chục lời khen hai tác giả trên và hai tập thơ được giải trên, thấy những lời khen rất mù mờ, tối nghĩa, lập lờ, thậm chí đao to búa lớn, tùy tiện, trích toàn những câu rất tầm thường, thậm chí rất dở ra khen hay, khiến những người đọc trẻ chưa đủ bản lĩnh trong thẩm mỹ thi ca dễ bị choáng váng, dễ bị định hướng sai lạc về thơ, rồi thi nhau viết những câu văn xuôi ngờ nghệch, ngớ ngẩn, xuống dòng liên tù tì và thi nhau nhận những giải thưởng phi… thơ.
Cuối năm 2000, tôi rời trường Viết văn Nguyễn Du về Nhà xuất bản Hội nhà văn, làm ở phòng văn học trong nước, do chị Lê Minh Khuê phụ trách. Việc tôi quyết định chuyển công tác về Nhà xuất bản, phần lớn là do thiện ý của chị, mặc dù cho đến lúc ấy tôi mới chỉ thoáng gặp Lê Minh Khuê vài lần, trong đó thân tình nhất là lần tôi đón chị bằng xe máy đến ăn tối ở khu nhà vườn mới mua của thầy Phạm Vĩnh Cư dưới Cổ Nhuế.
Thật vậy, đã hơn 70 năm – đã gần qua một đời người với biết bao thăng trầm dâu bể mà chuyện tình thơ Hai sắc hoa ti gôn của T.T.Kh vẫn tươi nguyên màu bí ẩn; bài thơ vẫn tồn tại một câu hỏi chưa lời đáp: T.T.Kh là ai?
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.