Chiều tối hôm qua (17/5/2016), tôi nhận được điện thoại của nhà thơ Lê Văn Sơn - Chủ tịch Hội VHNT Quảng Ngãi báo tin Trầm Thụy Du- Tổng biên tập Tạp chí Sông Trà đã đột quỵ và đang cấp cứu tại bệnh viện.Tôi đang chuẩn bị đi Hà Nội họp chưa ghé thăm anh được. Xin giới thiệu bài viết này như một lời cầu mong anh sớm qua cơn nguy kịch để tiếp tục sóng bước với nàng thơ.
Bây giờ… một ngày đông tháng Chạp anh đã ra đi. Anh không kịp cùng vợ con, bè bạn đón tết Ất Mùi, nhưng thơ anh cơ hồ như đã đón sớm tết cho mình, gửi lại cho đời những gì cần gửi, rồi thanh thản ra đi mà chẳng ai hay biết: Gửi mùa xuân kịp về cho mai nở/ Những lộc mới đang âm thầm mở cửa/ Nhựa rộn ràng như máu gửi thân cây/ Máu rộn ràng như rượu gửi tim say/ Chảy mênh mang trong tôi hồn túy lúy (Chỉ cần thấy màu xanh của lá).
Khoái nhất vẫn là khi nghe Phùng tiên sinh đọc thơ. Tôi lờ mờ rằng có khi thơ ông đọc hay hơn thơ ông viết? Và thơ của người khác cũng thế? Cái tạng Phùng Quán có lẽ cũng na ná như Maia bên trời Nga thì phải? Cứ là phải kiếm, phải tạo cho những tạng ấy một thứ như là quảng trường, một đám đông thì là sang sảng thì là hào sảng phải biết?
Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ có nhiều người hâm mộ nhất. Đi đến đâu, tôi cũng thấy người ta hát ca khúc của anh. Nhạc Trịnh không chỉ ngự trị khắp mọi xó xỉnh của xứ Việt này mà còn len lỏi đến tận những ngóc ngách sâu thẳm nhất trong cõi tinh thần của người Việt ở Hải ngoại. Dường như ở đâu, Trịnh Công Sơn cũng có người yêu mến. Nhưng có lẽ cho đến tận lúc giã biệt cõi đời này, nhạc sĩ cũng không biết anh có một khán giả ngoại quốc còn say anh cuồng nhiệt hơn bất cứ người hâm mộ nào. Đó là vị Giáo sư trẻ người Đức Frank Gerke.
Hình ảnh “chiếc gậy tà” có thể là chiếc gậy, lại có thể là một thói quen: Thói quen dựa giẫm, thói quen phụ thuộc. Nhà thơ già của chúng ta, khi đã tám mươi rồi, bệnh yếu rồi, chợt thấy, vào chính lúc mình cần “chiếc gậy tà” nhất, lại chính là lúc mình có thể dứt khỏi nó.
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Xuân Diệu đến với cuộc đời mới trong niềm vui chào đón, hồ hởi. Một chặng đường mới, những đóng góp mới tiêu biểu nhất trong những năm đầu Cách mạng tháng Tám là Ngọn quốc kỳ và Hội nghị non sông. Xuân Diệu gọi đó là những trường ca “viết bằng hồn”, khi tâm hồn gắn với đất nước và nhân dân, và đất nước đã bước sang trang sử mới. Tứ thơ, lời thơ toả sáng mà ấm áp với bao cảm xúc yêu thương, trân trọng, ngợi ca những biểu tượng về cuộc sống, con người của đất nước mới hồi sinh.
Cùng với nhà văn Tô Hoài, nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh là một trong hai vị lãnh đạo nhiệm kỳ đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam còn lại với chúng ta đến đầu thế kỷ XXI (tại Đại hội thành lập Hội Nhà văn Việt Nam năm 1957, nhà văn Tô Hoài được bầu làm Tổng thư ký, nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh là Phó tổng thư ký).
Một 9X “lọ mọ” với từ ngữ Tiếng Việt từ những năm học lớp 11, để sau gần 10 năm đã phát triển thành một dự án bảo tồn và phát huy tiếng mẹ đẻ của dân tộc.
Tôi có may mắn, thời nhà thơ Tế Hanh còn khỏe, tuy mắt đã mờ, nhưng hồn ông vẫn trong sáng, ngây thơ như thuở còn trai, tôi chơi thân với ông như một người em cùng quê Quảng Ngãi. Chúng tôi cùng yêu thơ và có sự ngưỡng mộ đặc biệt với thơ hiện đại phương Tây, nhất là thơ Pháp.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.