Ba chục năm mười cuốn tiểu thuyết, quả thật đáng nể, tuy nhiên ở ta ở tây có không ít nhà văn viết được nhiều như vậy hoặc hơn vậy, song mười cuốn, cuốn nào cũng hay, càng viết càng hay, thì thật sự là đặc biệt hiếm thấy. Và đấy cũng là chính là ưu điểm nổi trội hàng đầu của nhà văn Nguyễn Bình Phương. Mười cuốn tiểu thuyết cuốn nào cũng một cõi riêng, vị thế riêng, gần như là độc lập với nhau vậy, đúng như là nhà văn Nguyễn Quang Sáng từng dự đoán: sự xuất thần trời phú rồi sẽ còn đến với nhà văn đặc biệt này không chỉ duy nhất một lần…
“Lớn lên khi đất nước chiến tranh, đi lính đánh giặc là con đường duy nhất đúng. Chỉ buồn bây giờ sau chiến tranh, giặc “nội xâm” (tham nhũng) vẫn còn. Lâu nay, nhất là sau khoảng thời gian dịch dã, cùng cuộc chiến giữa Nga và Ukraina đã khiến tôi phải nghĩ lại về cái sự viết của mình”, nhà văn Trung Trung Đỉnh chia sẻ .
Thơ thế sự nói về người khác, thơ trữ tình nói về mình. Trần Nhuận Minh viết cả hai, với một ngôn ngữ có khi vui tươi có khi buồn bã, nửa thương xót nửa châm biếm. Trong anh có một nhu cầu không mệt mỏi, đi tìm ý nghĩa của sự vật, ngắm nhìn, và ngẫm nghĩ về, những hiện tượng xã hội thoạt tiên dễ bỏ qua. Bài thơ Buổi chiếu bóng đã tan, viết năm 1983, trước hẳn thời kỳ được gọi là đổi mới, là một bước đi lạ như thế, và hình như ít được chú ý. Cái nhìn của anh gần gũi, thân mật đối với thế giới chúng ta đang sống.
Có lẽ không một quốc gia nào trên trái đất này mà mộ, nghĩa trang người lính lại nhiều như mảnh đất hình chữ S. Những ngôi mộ, nghĩa trang của người lính trải dài từ Bắc đến Nam, từ rừng xuống biển, từ biên giới đến hải đảo, thậm chí còn nằm nơi đất khách quê người.
Trong đội ngũ các nhà văn, nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước thì nhà thơ, nhà báo, liệt sĩ Nguyễn Mỹ để lại dấu ấn mạnh mẽ, sâu sắc trong lòng độc giả nhiều thế hệ, nhất là bài thơ “Cuộc chia ly màu đỏ”. Với những đóng góp xuất sắc cho nền văn học nước nhà, năm 2007 ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.
“Giọng thơ của Trần Quang Quý trầm bổng cùng gió qua những vòm lá. Nó không nao núng và biết được sức mạnh của chính mình. Nó tự cất lên tiếng hát: “Anh nguyên vẹn bằng trái tim không đổi khác/Em lại đến thế là anh lại hát/ Một nồng nàn vồng ngực tặng em đây” (Quà tặng). Những bài thơ của Trần Quang Quý làm cân bằng cánh đồng nơi loài người tồn tại bằng cách đặt lên trên cùng một mặt đất bình đẳng tất cả những con người mà nó nắm bắt được – xấu xa và tốt đẹp, tàn tạ và kiêu hãnh, bị ruồng bỏ và đầy hy vọng”.
Mỗi khi thấy thất vọng trên đường đời tôi (và nhiều tôi) lại bắt xe về thăm anh, một người đàn ông có đôi mắt sáng và nụ cười rạng rỡ, một người đàn ông có đôi vai rộng nhưng thế giới của ông chỉ là một chiếc giường đôi. Trên đầu giường những cuốn sách chồng đống với gáy sách quay ra ngoài, bên cạnh tay với là chiếc gương nhỏ. Chiếc gương không dùng để soi mặt mà để soi gáy sách. Tôi đã đến thăm ông chừng bảy tám bận, còn gọi qua điện thoại thì vô số bận. Có nhiều khi tôi đã phải vịn vào lời giải của ông để bước qua hố đen… Ông là nhà thơ Đỗ Trọng Khơi mà ở đời có bốn tứ khổ: Mồ côi, thất học, nghèo đói, bệnh tật, thì ông lĩnh đủ cả bốn.
Bài thơ “Sợi nhớ sợi thương” của cố nữ thi sĩ Thúy Bắc được viết năm 1973, nằm trong nền thơ thời chống Mỹ. Đề tài và chủ đề cũng không ra ngoài dòng chảy chung của thơ ca thời ấy.
Tôi chưa một lần “trà đàm” cùng Đinh Trần Phương, chỉ thoáng thấy anh từ xa tại Trung tâm Văn hóa Pháp – L’Espace (24 Tràng Tiền, Hoàn Kiếm, Hà Nội) vào mùa hè 2018. Nhưng hai tập thơ “Cánh trăng”, “Giấc mơ của bàn tay” cùng hai cuốn sách dịch đã cho tôi hình dung được chân dung anh – một nhà thơ giàu nhiệt huyết, nghiêm túc và trong suốt…
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.