Cái mệnh đề quái ác ‘sinh ,lão ,bệnh ,tử’ với Lê Thái Sơn đã đi đến chặng cuối cùng của nó. Ngày 15 tháng 7 năm 2013, sau khi tuyển tập “LÊ THÁI SƠN Thơ và Văn chọn lọc” (Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo viết lời giới thiệu), anh viết bài thơ Với các Con: ‘Gom lời thơ một đời/Cuốn sách thành ngôi mộ/Các con ơi từng trang/Gói gém hồn của Bố”. Anh quyết định chấm dứt cuộc đời thơ của mình ở đây. Quyết định ấy với anh, với mọi người là điều tất yếu và dễ hiểu.
Vừa rồi, chúng tôi thực sự bất ngờ khi nhà thơ Trần Đăng Khoa, vốn là nhà thơ chúng tôi yêu mến, lên tiếng bức xúc về cuốn Từ điển type truyện dân gian Việt Nam do tôi và các cộng sự thực hiện mới xuất bản gần đây đã “xâm phạm bản quyền” (Đi đánh thần hạn) của anh.
Thi pháp học lí thuyết đương nhiên có một vị trí trọng tâm, hết sức quan trọng, bởi vì lí thuyết là công cụ, phương pháp luận để người ta thâm nhập, phân tích thi pháp của sáng tác. Ví dụ khái niệm cấu trúc mời gọi cho người ta thấy tác phẩm khác hẳn, hoặc khái niệm liên văn bản, khái niệm tác giả của Foucault cho ta thấy một số khía cạnh của chủ thể sáng tạo mà trước kia bị ngộ nhận. Tuy vậy thi pháp học không thể chỉ là thi pháp học lí thuyết.
Làm phụ nữ giữa làng văn quả là việc khó. Trầm Hương đã vượt mọi bi ai đời thường, vững vàng sống và sáng tạo, xuất bản đều đặn tác phẩm. Mới đây tiểu thuyết Đêm Sài Gòn không ngủ của nhà văn Trầm Hương đã nhận giải ba Giải thưởng Văn học nghệ thuật TP.HCM 5 năm lần thứ nhất (2006 - 2011), cùng lúc một tiểu thuyết khác của chị là Người cha hiện đại và tập truyện ngắn Nếu như có linh hồn được ra mắt bạn đọc.
Mặc dù cuốn sách lấy bối cảnh văn chương châu Âu, chủ yếu là Pháp nhưng cái tên và những điều Tzvetan Todorovviết trong đó lại rất thời sự với người Việt Nam, có thể coi là vấn đề “nóng”: Văn chương đang có nguy cơ cáo chung! Nó lâm nguy bởi các nguyên nhân xã hội chỉ là một phần nhỏ, còn phần lớn lại từ chính những người cầm bút sáng tác ra nó. Những nhà văn, vì chạy theo những mốt thời thượng, vì háo danh, muốn thu hút sự chú ý để nhanh nổi tiếng, tạo ra một lối văn khác lạ, coi trọng hình thức, xem nhẹ nội dung, quay lưng với hiện thực cuộc sống, đã và đang làm biến dạng, biến tướng văn chương, khiến văn chương ngày càng đi ra khỏi bản chất nhân đạo vốn có của nó.
Tiếp sau Xuân Thu nhã tập (1942), nhóm Dạ Đài (gồm Trần Dần, Trần Mai Châu, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch, Vũ Hoàng Chương…) là bước tìm tòi đổi mới cuối cùng của phong trào Thơ Mới. “Với tinh thần tiên phong và ước vọng cao đẹp về sự đổi mới của thi ca Việt, Dạ Đài đã đưa ra những quan niệm thơ mới lạ và giàu ý nghĩa. Nhưng do nhiều lý do, hoàn cảnh nên lâu nay hiện tượng văn chương này chưa được nghiên cứu một cách khách quan, khoa học. Nó không được xếp vị trí chính thức trong tiến trình văn học Việt Nam thế kỷ XX.” (Hồ Thế Hà)
Đời là bể khổ, đúng là lời Phật dạy, nhưng lời dạy ấy mới là một nhận thức thực tại. Xử lý thực tại ấy ra sao để con người lặn trong bể khổ lại tìm ra nguồn vui, đấy mới là mục đích của người tu Phật...
Vội vàng là một trong những bài thơ tiêu biểu cho đời thơ Xuân Diệu, được đưa vào chương trình Ngữ văn lớp 11, quyển hai, bộ cơ bản. Toàn bài thơ toát lên tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống tha thiết cháy bỏng của Xuân Diệu.
Trong số kịch bản đã được dựng trên sân khấu cả nước của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ (1948-1988), Hồn Trương Ba da hàng thịt của ông đã gánh chịu số phận thật long đong, vất vả ngay từ khi ra đời. Viết xong năm 1981, kịch bản này bị cho là có vấn đề về phản ánh hiện thực, bị nằm im trong ngăn kéo của Lưu Quang Vũ 5 năm.
Các tác giả lớn không chỉ gây ảnh hưởng bằng tư tưởng, học thuật, mà còn gây ảnh hưởng bằng chính phong cách sống, thái độ sống. Trang Tử đã truyền lại cho đời sau một phong cách ngông, tư thế ngông, trở thành “ông tổ ngông” trong văn học.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.