Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã khơi nguồn cảm hứng lớn cho thơ, lôi cuốn một lực lượng sáng tác đông đảo. Các thế hệ làm thơ cùng có mặt bên nhau trong trận tuyến đánh Mỹ. Lớp nhà thơ trưởng thành từ trước cách mạng tháng Tám nâng cao tầm tư tưởng, phong phú kinh nghiệm, trẻ trong tâm hồn, khoẻ trong sức viết, khẳng định được hướng đi lên đã “truyền lửa” cho thế hệ sau.
Thế rồi cái gì phải đến cũng đến. Hội Nhà văn làm quyết định khôi phục hội tịch cho các ông Trần Dần, Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh, Lê Đạt, Phùng Quán. Thực ra không phải là khôi phục hội tịch. Cả năm ông chỉ bị khai trừ có thời hạn người thì 2 năm, người 3 năm kèm theo là treo bút trong thời gian đó. Rồi kỷ luật đã hết nhưng không ai đứng ra đề nghị cho các ông trở lại sinh hoạt bình thường. Cứ lãng quên như vậy và các ông tưởng như bị lãng quên...
Người ta vẫn nghĩ về Lưu Quang Vũ - nhà thơ với những bài thơ tình dịu dàng say đắm, thế nhưng trong tập thơ vừa ra mắt (400 trang, 132 bài), Lưu Quang Vũ đã bộc lộ mình như một con người hết sức đa dạng, và quyết liệt đến mức lạ lùng.
Tôi tỉnh giấc và lần mò bật công tắc đèn đầu giường. Tôi nhìn đồng hồ thấy đã ba giờ sáng. Tôi ngồi dậy và thở nặng nhọc. Tôi đang ở trong căn phòng của khách sạn có tên là Iowa House Hotel. Bên cạnh khách sạn là sông Iowa. Suốt chiều qua tôi đi lang thang dọc bờ sông Iowa. Hai bờ sông giống như một công viên. Hoa nở rực rỡ khắp nơi. Gió xuân dào dạt thổi. Từng đôi vịt trời và thiên nga đang tắm trên sông. Thi thoảng tiếng kêu của một con thiên nga cất lên như tiếng kèn đồng, dội vào mặt nước và lan rộng dọc hai bờ sông. Trong lúc lang thang dọc bờ sông Iowa, tôi lại nhớ về con sông Đáy làng mình.
“Viết nhanh hay chậm chả có ý nghĩa gì. Viết với các nhà văn là thứ lao động khổ sai, tự nguyện, nhưng đồng thời nó cũng mang lại nhiều hứng thú cho anh ta. Trong cái khổ có cái sướng và ngược lại”, Trung Trung Đỉnh tâm sự.
Văn học hôm nay, tại sao ta chưa có nhiều những tác phẩm lớn có giá trị như mong ước của mọi người? Tại sao ta chưa tạo ra được phong trào và chưa tạo ra sự thống nhất về khuynh hướng sáng tác để tạo ra hệ thi pháp tiêu biểu cho cả một thời kỳ và giai đoạn? Đó là vì, theo tôi, các văn nghệ sĩ chưa ý thức được vấn đề trên một cách sáng rõ. Mỗi người mỗi quan niệm, mỗi tuyên ngôn, mỗi cách thể hiện riêng mà theo họ, đó là độc đáo, là cách tân mới lạ của mình. Hơn nữa, các sáng tác kiểu ấy, đa phần lại công bố trên mạng, trên các phương tiện đặc biệt khác, chỉ một số người đọc được, còn đa số các độc giả khác chưa có dịp tiếp xúc. Vậy thì làm sao tạo ra được sự cộng hưởng về dư luận tiếp nhận, làm sao tạo ra được sự thống nhất nhưng đa dạng về thi pháp, khả dĩ đại diện mới mẻ và hợp quy luật cho văn chương thời đại mình? Vì vậy, sau những tuyên ngôn của họ, một thời đại văn học mà họ mong muốn vẫn ở tận đâu đó trong hút hắt của im lặng.
Nhà văn Trần Hữu Lục trân trọng và kỳ vọng: “Trần Duy Phiên là một người viết văn thành danh rất sớm, đã khổ luyện giữa phố phường và cả giữa chốn rừng xanh, đã đạt độ chín muồi trong sáng tác. Bây giờ đọc Ngõ Đạo Miền Hoang Dã, bắt gặp Ngựa Hoang, Charles David – Vua Sédang, Anh Hùng Thảo Dã…tôi nghĩ vua Lửa, vua Nước ở Tây Nguyên chẳng còn ngai vị, vương quyền nhưng không ai muốn xóa bỏ. Trần Duy Phiên cũng thế, hơn bốn mươi năm sống ở Kontum, đến nay chức quyền không ngoài hai chữ “thường dân” nhưng người ta khó mà quên được anh. Đó là thành quả của một Trần Duy Phiên mãi âm thầm, bền bỉ với chọn lựa của mình như thuở mới bắt đầu. Vẫn biết văn chương đang rớt giá, nhưng Trần Duy Phiên thật sự cảm thấy hạnh phúc mỗi khi hoàn tất một tác phẩm. Là bạn học, bạn văn và bạn đọc, tôi vẫn tham lam kỳ vọng ở Trần Duy Phiên nhiều hơn nữa, trong đó những gì bất hạnh đã viết đang còn trong bóng tối và những gì hy vọng sẽ viết đến hơi thở cuối cùng”
Theo TS Diện, giáng bút là hiện tượng “nhập thần” trong đó thực hiện nghi lễ cầu cúng để mong muốn có sự phán truyền dạy dỗ của thần linh thông qua văn tự (Hán Nôm). Trong các nghi lễ của người Việt thời trước, có một không gian nghi lễ khá đặc biệt rất đáng để ý là Thiện đàn. Ở đấy diễn ra một hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh độc đáo là giáng bút - một hiện tượng văn hóa tâm linh có thực trong xã hội Việt Nam, khi mọi người cầu Thánh - Thần - Tiên - Phật ban cho mình những bài thơ, thông qua một người có năng lực đặc biệt.
Hàn Mặc Tử sáng tạo chứ không trích cú. Bởi vậy, khi bột phát lời thơ giữa cơn cảm hứng nồng nàn và day dứt, mọi điều có thể xảy đến, có thể đồng hiện: đó là người thương, người quen, người dưng đằm thắm, là khu vườn, là bình phong, mắt gạch. Ấn tượng bùng lên từ thăm thẳm tâm thức thì ai mà khảo đến tận cùng. Cũng như cầu thủ giỏi, đi một động tác không tưởng thì có ai biết được từ ông thầy nào dạy cho. Kĩ năng đã trở thành bản năng. Người làm thơ cũng xuất thần như vậy. Hàn Mặc Tử cũng như vậy, gương mặt người trong mộng hiện lên nhưng cùng với nó sẽ là bao tâm cảm chứa trong ba chữ MẶT CHỮ ĐIỀN.
Không cầu kỳ, lý sự và tỏ ra "bày vẽ", Lưu Khánh Thơ có cái nhìn khá "chăm chú" về thể loại Trường ca. Một cái nhìn khái quát và khá trân trọng với những gì mà đồng nghiệp đã cảm nhận về một thể loại thơ "đặc chủng" này. Lối viết hiền hòa, từ tốn, tôn trọng các ý kiến về một thể loại thơ khá "động", "mở" , "linh hoạt" và độc đáo của VHVN hiện đại. Cũng là người nghiên cứu Trường ca, mà PGS.TS Lưu Khánh Thơ đã từng phản biện, tôi mê Lưu Khánh Thơ ở cách viết nghiêm túc, dịu dàng, ân tình, trân trọng của cây bút này (Mai Bá Ấn)
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.